Phần mở đầu Chƣơng này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của đề tài. Chƣơng 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc Chƣơng này trình bày tổng quan các khái niệm về sự tham gia, khảo lƣợc các tài liệu lý thuyết liên quan đến sự tham gia của cộng đồng, vai trò và trở ngại của sự tham gia, các nghiên cứu trƣớc và khung phân tích đề xuất, giới thiệu cuộc vận động 5 Không 3 Sạch. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng này trình bày về quy trình nghiên cứu của đề tài, phƣơng pháp nghiên cứu và phƣơng pháp chọn mẫu. Chƣơng 4: Kết quả khảo sát 123doc 5 Chƣơng này trình bày thực trạng cuộc vận động, thông tin về đối tƣợng đƣợc điều tra, kết quả khảo sát về sự tham gia của phụ nữ đối với CVĐ 5K 3S và đề xuất giải pháp.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Chƣơng này trình bày tóm tắt kết luận về kết quả nghiên cứu, kiến nghị, hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Các khái niệm về sự tham gia cộng đồng Sự tham gia là một cụm từ quen thuộc, sử dụng khá rộng rãi và có nhiều định nghĩa phù hợp cho từng lĩnh vực.
Theo Florin, Paul (1990) tham gia là hoạt động mà ở đây các đối tƣợng tham gia vào quá trình ra quyết định của tổ chức, chƣơng trình và nơi mà tạo ra sự ảnh hƣởng với chính họ. Thế nhƣng, khái niệm khác do Trần Thị Thanh Hà (2009) nêu ra là sự thỏa thuận một cách chủ động, lâu dài và tích cực ở phía cộng đồng vào phát triển trong các quá trình từ lập kế hoạch, giám sát, đánh giá nhằm đảm bảo chất lƣợng và lợi ích của phát triển cộng đồng. Đồng thời, sự tham gia còn đƣợc tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau và đƣợc các tác giả trong nƣớc lẫn quốc tế định nghĩa: Cohen và Uphoff (1977) định nghĩa tham gia là sự tham dự của ngƣời dân trong việc ra quyết định, thực hiện chƣơng trình, chia sẻ quyền lợi và đánh giá các chƣơng trình phát triển. Paul (1987) tham gia lại là một chu trình chủ động qua đó ngƣời thụ hƣởng, nhóm thân chủ ảnh hƣởng và quá trình triển khai tổ chức một dự án phát triển với quan điểm nâng cao chất lƣợng cuộc sống về thu nhập, tăng trƣởng cá nhân, tự tin hoặc những giá trị khác mà họ kỳ vọng.
FAO (1982) cho rằng mối quan hệ với kinh tế và chính trị trong diện rộng xã hội đƣợc tạo nên từ chính sự tham gia của ngƣời dân; ngoài tham gia vào chƣơng trình thì ngƣời dân nông thôn còn tự tổ chức, xác định nhu cầu của mình, chia sẻ thiết kế, thực hiện và kiểm soát cả hành động ở Việt Nam. 123doc 7 Trƣơng Văn Truyền (2007) đƣa ra nhận định là con ngƣời cùng tham gia vào một hoạt động nhằm phát triển địa phƣơng, hoạt động sinh kế hay trách nhiệm với xã hội. Nhìn chung, sự tham gia chỉ hành động tham dự vào một chƣơng trình, dự án để cùng tiến tới mục đích mong muốn, đƣợc đóng góp thông qua chính hành động, thái độ của bản thân. Khi quá trình này càng đƣợc tăng cao thì sự phát triển càng hiệu quả với quá trình trao đổi cởi mở, sẵn sàng chia sẻ, nhận ý kiến và phản hồi giữa ngƣời dân, cán bộ quản lý và địa phƣơng; tuy nhiên việc kiểm soát và mức độ tham gia vào hoạt động còn tuỳ thuộc từng cá nhân cũng nhƣ hoàn cảnh cụ thể.
Từ đó, sự tham gia của phụ nữ mang tính đặc trƣng thông qua đặc điểm tâm sinh lý – xã hội giới. Vấn đề này nói lên mối quan hệ, tƣơng tác của phụ nữ đối với các chƣơng trình, dự án (bên liên quan). Vai trò của sự tham gia cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng quyết định sự thành công hay thất bại của một chƣơng trình hay kế hoạch đƣợc cơ quan, tổ chức cũng nhƣ Nhà nƣớc đề ra. Đây có thể đƣợc so sánh nhƣ một phƣơng tiện hữu ích để kêu gọi tài nguyên, quá trình đóng góp và sử dụng tính sáng tạo của ngƣời dân vào các hoạt động.
Đồng thời, sức mạnh nhóm đối tƣợng tham gia sẽ tăng cao khi làm việc cùng nhau, trao đổi ý tƣởng thì khả năng giải quyết các vấn đề khó khăn cũng đƣợc mở rộng hơn. Kế đến, kết quả sẽ đáng mong đợi hơn khi đón nhận sự tham gia này vì chính họ biết rõ nhất bản thân mình cần gì, điểm mạnh ra sao cũng nhƣ cần khắc phục hay phát huy nguồn lực thế nào cho đúng cách. Một điều không thể phủ nhận là một cuộc dự án có hiện diện của sự tham gia luôn dễ dàng thành công do nhận đƣợc sự đồng tình và khuyến khích từ cộng đồng, ngƣợc lại nếu bị phản đối, càng ít quần chúng tham gia thì càng khó có cơ hội phát triển bền vững. Sự tham gia của ngƣời dân là quan trọng do nhiều nguyên nhân, mà có thể bao quát nhƣ: 123doc 8 Ngƣời dân vừa là đối tƣợng của các hoạt động vừa là ngƣời chủ thực sự của chính hoạt động đó.
Thực hiện dân chủ cơ sở Các hoạt động có thể xảy ra sẽ đƣợc hạn chế Các hoạt động sẽ tăng đƣợc tính bền vững Nguồn lực của cộng đồng có thể khai thác hiệu quả hơn Ngƣời dân có thể tự nâng cao năng lực. Vậy vai trò của STG là quan trọng và vô cùng cần thiết cho hoạt động phát triển cộng đồng, thúc đẩy ngƣời dân gắn kết cùng các chƣơng trình mà đem lại mục tiêu chung cho xã hội. Tuy nhiện, việc thực hiện cũng nhƣ triển khai không tránh khỏi những hạn chế khiến sự tham gia chƣa phát huy đƣợc hiệu quả. Trở ngại của sự tham gia Khi một chƣơng trình hành động đƣợc đƣa ra sẽ không tránh khỏi việc ngƣời dân mà ở đây chính là nhóm phụ nữ chƣa thực sự quen với cách làm mới, dẫn tới cảm giác e ngại.
Quá trình xây dựng năng lực cho các nhóm đối tƣợng tham gia cần nhiều thời gian – yếu tố cản trở tƣơng đối rõ ràng với phụ nữ. Hơn nữa, khi một cuộc vận động đƣợc nêu ra đồng nghĩa với việc cần tuyên truyền, điều phối và triển khai thì vấn đề chi phí luôn là điều tiên quyết để lập kế hoạch. Ngân sách yếu thì việc thực hiện sẽ bị hạn chế, thông tin khó mang đến ngƣời tham gia, nhất là nhóm phụ nữ - đối tƣợng vẫn còn bị phân biệt giới tính, khả năng tiếp cận thông tin còn thấp. Đồng thời, khuôn mẫu trong cuộc sống hằng ngày có thể bị xáo trộn khi tiếp cận chƣơng trình mà Nhà nƣớc đề ra.
Ngoài ra, theo Ngân hàng phát triển châu Á (2003) chỉ ra chiều hƣớng mâu thuẫn giữa hành vi quan liêu và các yêu cầu của sự tham gia chính là thách thức lớn nhất của sự tham gia. Đầu tiên, chính quyền thiếu kiên nhẫn trong huy động cộng đồng 123doc 9 đã bỏ quên quá trình tham gia nhằm phục vụ lợi ích. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng lo ngại ảnh hƣởng đến quyền lực và kiểm soát dự án khi ngƣời hƣởng lợi có dấu hiệu không thích, dẫn tới không hợp tác. Khả năng hiểu biết và tiếp cận thông tin của ngƣời dân cùng với phƣơng pháp diễn đạt phía chính quyền cũng ảnh hƣởng đến sự tham gia.
Kết quả là ngƣời dân tham gia không đầy đủ, giảm hiệu quả và ý nghĩa của sự tham gia. 1: Các yếu tố cản trở sự tham gia Nguồn: Nguyễn Nguyệt Huế, 2015. Tóm lại, sự tham gia từ phía cộng đồng hay nhóm đối tƣợng thụ hƣởng nhất định sẽ bị cản trở bởi nhiều tác nhân xung quanh xuất phát từ đặc điểm nội tại của cộng đồng cũng nhƣ thái độ của chính quyền địa phƣơng và các tổ chức bên ngoài. Khảo lược tài liệu Lý thuyết về sự tham gia đƣợc trình bày bởi nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới.
Đầu tiên, lý thuyết của Arnstein bàn luận về nấc thang của sự tham gia lần đầu xuất hiện vào năm 1969 từ nguồn cảm hứng công việc quy hoạch đô thị của bà năm 1960. Theo Arnstein việc trao quyền lực cho ngƣời dân tăng dần thông qua sự tham 123doc 10 gia mà đƣợc ví nhƣ một cái „thang‟ với các „nấc‟. Mỗi nhóm bƣớc thang tƣơng ứng với sự thay đổi về mức độ tham gia của ngƣời dân. Bà tập trung vấn đề vào mức độ tham gia thông qua 8 nấc thang (bị điều khiển, liệu pháp, chia sẻ thông tin, tham vấn, động viên, hợp tác, uỷ quyền và dân quản lý) với 3 cấp độ tham gia (không tham gia, tham gia mang tính hình thức, ngƣời dân kiểm soát).
Cấp độ tham gia càng cao thì ngƣời dân sẽ càng có “quyền lực” cao hơn. Mức độ không tham gia gồm có bị điều khiển và liệu pháp. “Bị điều khiển” là ngƣời dân không tham gia vào bất kì khâu nào trong quá trình ra quyết định, mọi việc do nhà nƣớc thực hiện và thuê ngoài mà ý kiến của ngƣời dân sẽ không đƣợc quan tâm hoặc tôn trọng. “Liệu pháp” ý kiến của ngƣời dân bắt đầu đƣợc xem xét hơn bởi ngƣời đại diện của chính quyền, thực hiện theo chính quyền nhƣng lại không nắm rõ những điều mình đang làm.
Mức độ tham gia hình thức gồm thông tin, tham vấn và động viên. “Thông tin” nhận đƣợc thông tin về chƣơng trình (thƣờng là thông tin một chiều), ngƣời dân chỉ tham gia trả lời câu hỏi nhƣng không đƣợc phản hồi hay cùng phân tích thông tin mình góp ý. Nội dung “Tham vấn” thì ngƣời dân sẽ tham gia các cuộc họp đối thoại, buổi lấy ý kiến do chính quyền tổ chức mà gần nhƣ chỉ là hình thức, mang tính chất tham khảo là chính chứ không đƣợc tham gia vào quá trình ra quyết định. “Động viên” uỷ ban đại diện đƣợc bầu ra bởi chính ngƣời dân nhằm ghi nhận, lắng nghe của mình, đây là cách thể hiện quyền lực của ngƣời dân.
Mức độ ngƣời dân quản lý gồm hợp tác, uỷ quyền và ngƣời dân kiểm soát. Nội dung “hợp tác” thể hiện việc phối hợp cùng chia sẻ quyền lực và trách nhiệm trong quá trình lên kế hoạch, quyết định giữa nhà nƣớc và ngƣời dân. “Uỷ quyền” quyền quyết định thuộc về ngƣời dân, quyền lực và các vị trí trong uỷ ban cũng chủ yếu thuộc về họ, ngƣời dân sẽ ra quyết định và tự chịu trách nhiệm với hành động của chính mình.