Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị 1. Khái niệm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị 1. Quyền của phụ nữ Khái niệm quyền con người từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu cũng như trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, có nhiều trường phái khác nhau khi tiếp cận khái niệm quyền con người. Chẳng hạn, trường phái pháp luật tự nhiên thí cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên, khẳng định quyền con người là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ nhận quyền con người do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng cho. Trường phái pháp luật thực định cho rằng, quyền con người là sự cho phép và khả năng hành động của con người do các quốc gia ghi nhận trong pháp luật quốc gia hoặc thừa nhận với tư cách thành viên của các Điều ước pháp lý quốc tế về quyền con người. Cũng có quan niệm cho rằng, con người cũng như quyền con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, quyền con người không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tình tự nhiên, bẩm sinh mà luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội, chịu sự giới hạn của chế độ kinh tế, đặc biệt là chế độ chình trị – nhà nước.
Khái niệm quyền con người vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu và tranh luận nhưng qua nghiên cứu ý kiến của các nhà khoa học, về cơ bản có thể thống nhất với cách hiểu sau: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh, thể hiện mối quan hệ giữa mỗi cá nhân với nhà nước và với những cá nhân khác. 10 Từ định nghĩa trên, có thể thấy, thuộc tình cơ bản của quyền con người là những giá trị gắn với mỗi con người, vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Giá trị đó phải được xã hội hoá bằng cách thể chế hoá thành các quyền năng cụ thể, có tình phổ cập, cần thiết cho mọi người. Nói cách khác, quyền con người là một trong những giá trị xã hội tổng hợp, có tình hiện thực, tình phổ biến và tình đặc thù, được ghi nhận bởi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.
Lịch sử chứng minh vai trò to lớn của nhận thức về quyền con người đối với sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Quyền con người là mục tiêu của cả loài người, được các quốc gia đề cập nhiều trong mối quan hệ chình trị, kinh tế, và đối ngoại. Sự phát triển của mọi mặt của đời sống xã hội, tạo dựng các giá trị vật chất và tinh thần đều nhằm phục vụ con người, hiện thực hóa các quyền con người nhằm mục đìch tôn vinh chình phẩm giá con người. Khi con người được tôn trọng, bảo vệ, quyền con người góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục bồi đắp những giá trị hiện có, vừa tạo lập nên những giá trị mới cho nhân loại.
Ngày nay, quyền con người được ghi nhận trong hệ thống các văn kiện chình trị - pháp lý quốc tế, khu vực và quốc gia với những cam kết mạnh mẽ của các quốc gia về việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Nếu căn cứ vào tình chất của các quyền con người được ghi nhận trong các văn bản hợp thành Bộ luật nhân quyền quốc tế thí quyền con người được chia thành những nhóm chình sau: - Các quyền chình trị bao gồm: Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử, quyền bính đẳng nam nữ, quyền tự do tìn ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chì… - Các quyền dân sự bao gồm: Quyền tự do đi lại cư trú trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được an toàn về thư tìn, điện thoại, quyền khiếu nại, tố cáo… 11 - Các quyền trong lĩnh vực kinh tế – xã hội bao gồm: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền được bảo hộ hôn nhân và gia đính, quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế, được bảo vệ sức khoẻ, quyền được giáo dục đào tạo, quyền nghiên cứu, phát minh… và một số quyền mang tình chất ưu tiên như quyền trẻ em, quyền người già, người cô đơn không nơi nương tựa. Phụ nữ là nhóm con người chiếm hơn nửa gia đính nhân loại, giữ một vị trì đặc biệt quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của gia đính nhân loại. Phụ nữ có những phẩm chất riêng về tâm sinh lý và cần được bảo vệ.
Theo đó, phụ nữ được hưởng tất cả những quyền con người cơ bản kèm theo những đảm bảo đặc biệt trong quá trính thực hiện các quyền con người gắn với tình đặc thù của nhóm người này. Như vậy, khi tiếp cận khái niệm quyền của phụ nữ, quyền con người được hiểu theo nghĩa xác định hơn, nó phản ánh những quyền cụ thể của một đối tượng cụ thể. Quyền của phụ nữ được quy định trong pháp luật luôn có sự xem xét những yếu tố về tâm sinh lý của giới nữ, quan điểm về thuần phong mỹ tục, về văn hoá của một dân tộc… để xây dựng nên một khung quy tắc về hành vi ứng xử quan hệ giao tiếp giữa người nam và người nữ, sao cho vừa thể hiện lối sống bính đẳng văn minh đồng thời vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, tránh xảy ra sự xung đột và biến đổi xã hội gay gắt. Do đó quyền của phụ nữ không chỉ được hiểu đơn thuần như quyền con người nhưng cũng không thể tách rời quyền con người.
Trong hệ thống quyền con người, quyền của phụ nữ là một bộ phận hợp thành quan trọng, tuy nhiên không mang ý nghĩa là những quyền riêng có của phụ nữ. Với tư cách là con người, phụ nữ được hưởng mọi quyền tự nhiên thuộc về con người. Mặc dù vậy, vốn được xem là nhóm yếu thế do vẫn tồn tại nhiều phân biệt mang tình giới nên quá trính hiện thực hóa các quyền của phụ nữ cần phải đi kèm những biện pháp đảm bảo đặc biệt để chắc chắn rằng các quyền của phụ nữ không bị xâm hại. 12 Từ đó, có thể đưa ra cách hiểu về quyền của phụ nữ như sau: Quyền của phụ nữ là quyền con người gắn với những đặc quyền được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh để phụ nữ có thể quyết định được những gì thuộc về họ và được tôn trọng, bảo vệ những quyền đó.
Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị Chình trị là một khái niệm có nội dung rất phong phú. Ví vậy, đã có khá nhiều quan niệm về chình trị được nêu ra, phản ánh các góc độ tiếp cận khác nhau. Tiếp cận từ góc độ quyền lực, chình trị được hiểu là ”Sự tham gia vào các công việc nhà nước, sự quy định các hình thức, nội dung và nhiệm vụ hoạt động của nhà nước. Lĩnh vực thể hiện của chính trị rất rộng, bao gồm vấn đề về chế độ nhà nước, về quản lý đất nước, về đấu tranh giai cấp, đấu tranh đảng phái, lãnh đạo giai cấp.
các quan hệ giai cấp, các lợi ích căn bản của giai cấp được bộc lộ ra từ chính trị. Đồng thời chính trị còn biểu hiện quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia” [35, tr. Chình trị có thể được hiểu là một chế độ nhà nước, theo đó có chế độ chình trị dân chủ hoặc chế độ chình trị phi dân chủ. Chình trị cũng có thể được hiểu là mối quan hệ giữa các lực lượng, đảng phái trong xã hội hướng tới mục tiêu tranh giành quyền lực nhà nước.
Trong các xã hội hiện đại, chình trị biểu hiện cụ thể ở sự tham gia và mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội vào công việc của nhà nước, của xã hội nhằm đảm bảo quyền lực nhân dân. Ví vậy, xét đến cùng thí chình trị là thái độ đối với con người và quyền lực. Mối quan hệ chình trị và quyền con người là mối quan hệ giữa những hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc vốn bị quyết định bởi tồn tại xã hội nhất định. Chình trị phải gắn với quyền con người và quyền con người phải được ưu tiên trong hoạch định và đường lối chình trị.
Sự kết hợp giữa nội dung của chình trị với bản chất của quyền con người chình là cơ sở dẫn đến sự thừa nhận về quyền chình trị. 13 Cũng đã có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền chình trị. Trong giáo trính đại cương phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy của trường Waynesboro ở bang Pennsylvania (Mỹ), quyền chình trị được định nghĩa một cách đơn giản là ”những yêu cầu pháp lý của công dân được tham gia trong chính quyền và được đối xử công bằng” [53]. Cách hiểu này cho thấy quyền chình trị trước hết là một quyền pháp lý, được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật.
Cách hiểu này cũng bao hàm quan niệm cho rằng quyền chình trị chỉ gắn với những cá nhân có tư cách công dân. Theo Từ điển Luật học Mỹ (Black Law Dictionary) quyền chình trị “Là những quyền có thể được thực hiện trong quá trình thành lập hay quản lý chính quyền. Các quyền của công dân được xác lập hoặc công nhận bởi Hiến pháp dành cho họ quyền tham gia trực tiếp hay gián tiếp trong việc thành lập hoặc trong quản lý chính quyền” ” [51, tr. Định nghĩa này tiếp cận về mặt pháp lý đối với quyền chình trị, ví trước tiên nó là ”quyền của công dân”, và ”được xác lập hoặc công nhận bởi Hiến pháp”.
Tuy nhiên, theo cách hiểu này thí phạm vi quyền chình trị tương đối hẹp ví nó chỉ bao gồm: quyền tham gia trực tiếp hay gián tiếp trong việc thành lập hoặc trong quản lý chình quyền. Từ điển Luật học do nhà xuất bản Từ điển bách khoa Việt Nam ấn hành năm 1999 cho rằng “Quyền chính trị là quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân. Đó là quyền quan trọng nhất của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như công dân có quyền bầu cử, quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước.