Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vấn đề bình đẳng giới và quyền của phụ nữ được cộng đồng quốc tế xác định là một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, đồng thời là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội. Tại Việt Nam, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thị trường đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực cho đời sống nhân dân. Tuy nhiên, xuất phát điểm từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu cùng sự tồn tại dai dẳng của tư tưởng Nho giáo phong kiến "trọng nam khinh nữ" đã và đang cản trở nhận thức về vị thế của phụ nữ. Định kiến giới khiến phụ nữ nông thôn tiếp tục chịu thiệt thòi trong cả gia đình lẫn ngoài xã hội. Mặc dù hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện, song các quy định này vẫn còn thiếu tính nhạy cảm giới và thiếu cơ chế thực thi chi tiết ở cấp cơ sở.
Trước thực trạng đó, ngành Công tác xã hội với tư cách là một khoa học ứng dụng và hoạt động chuyên nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhóm yếu thế, giúp họ phát huy tiềm năng và cải thiện hoàn cảnh. Xã Tân Lập (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc) là một xã thuần nông, đời sống người dân phụ thuộc chủ yếu vào trồng trọt và hoa màu, trình độ dân trí còn hạn chế, các nguồn thông tin mới khó tiếp cận. Những định kiến giới ăn sâu trong tiềm thức cộng đồng khiến tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình tại đây diễn ra phổ biến. Khóa luận tốt nghiệp ngành Công tác xã hội của tác giả Hà Thị Nhung (lớp K57D - CTXH, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng bất bình đẳng giới tại địa phương và vận dụng các kỹ năng chuyên môn của phương pháp công tác xã hội nhóm để đề xuất mô hình can thiệp phù hợp.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích thực trạng và nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại xã Tân Lập; khảo sát các giải pháp đã được chính quyền địa phương triển khai cùng những mặt tồn tại; từ đó vận dụng phương pháp và kỹ năng công tác xã hội nhóm để xây dựng mô hình can thiệp nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới tại địa bàn.
Để hoàn thành mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và khái quát hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ; tiếp cận các lý thuyết xã hội học về giới và bình đẳng giới trong gia đình.
- Xác định các yếu tố biểu hiện bất bình đẳng giới trong đời sống gia đình tại xã Tân Lập.
- Đánh giá thực trạng mối quan hệ giới trong gia đình nông thôn ở xã Tân Lập giai đoạn nghiên cứu.
- Vận dụng phương pháp, kỹ năng của công tác xã hội nhóm nhằm xây dựng mô hình can thiệp giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình tại xã Tân Lập trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quan hệ giới trong gia đình, các mối quan hệ nam nữ, trọng tâm là mối quan hệ vợ chồng trong gia đình nông thôn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các mặt: phân công lao động sản xuất và tái sản xuất, kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản, nuôi dạy con cái, quyền ra quyết định, tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực kinh tế, cùng vấn đề bạo lực gia đình tại các hộ gia đình thuộc xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận thông qua hệ thống khái niệm chuyên ngành, quan điểm chính trị - pháp lý và các lý thuyết chuyên biệt của công tác xã hội:
- Hệ thống khái niệm chuyên ngành: Tác giả phân định rõ các thuật ngữ học thuật: Giới (Gender - các quy chuẩn, vai trò, trách nhiệm do xã hội và văn hóa quy định cho nam và nữ); Bình đẳng giới (trạng thái nam và nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, cùng được tạo điều kiện phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả); Giới tính (Sex - sự khác biệt sinh học bẩm sinh); Vai trò giới (các kỳ vọng của xã hội gắn với từng giới); Bất bình đẳng giới (sự chênh lệch về cơ hội, địa vị, lợi ích); Phân công lao động theo giới (sự phân chia chức năng hoạt động giữa nam và nữ). Về mặt chuyên môn, khóa luận định nghĩa Công tác xã hội dựa trên chuẩn mực của Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Công tác Xã hội Hoa Kỳ (NASW, 1970), Liên đoàn Công tác Xã hội Chuyên nghiệp Quốc tế (IFSW, Montreal 2000 và Canada 2004) và định nghĩa chuyên môn của Philippines; đồng thời xác định Công tác xã hội nhóm là phương pháp sử dụng tiến trình sinh hoạt nhóm và tương tác đa chiều để củng cố chức năng xã hội, hỗ trợ giải quyết vấn đề và thay đổi hành vi cá nhân.
- Cơ sở tư tưởng và chính sách:
- Chủ nghĩa Mác - Lênin: Phân tích luận điểm của Ph. Ăng-ghen về sự chuyển biến lịch sử từ thị tộc mẫu quyền sang chế độ phụ quyền gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và chế độ tư hữu; khẳng định điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ vô sản là đưa họ trở lại nền sản xuất xã hội dưới thời đại công nghiệp.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Khẳng định giải phóng phụ nữ là một nửa của giải phóng loài người và xây dựng chủ nghĩa xã hội; kiên quyết phê phán tệ bạo hành, đánh đập vợ; nhấn mạnh tinh thần phụ nữ phải tự lực, tự cường để giải phóng chính mình.
- Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: Điểm lại tiến trình lịch sử từ Luận cương chính trị năm 1930 (lần đầu xác lập nguyên tắc "nam nữ bình quyền"), Nghị quyết 25/NQ/TW (1957), Chỉ thị 44-CT/TW (1984), Văn kiện Đại hội VI (1986), Nghị quyết 04/NQ/TW (1993) của Bộ Chính trị, Chỉ thị 28/CT/TW (1993), Chỉ thị 37/CT/TW (1994), Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 (Đại hội VIII) đến Văn kiện Đại hội X (2006).
- Văn bản quốc tế: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW, 1979; Việt Nam ký ngày 29/7/1980 và phê chuẩn ngày 27/11/1981), đặc biệt là Điều 14 quy định các quyền và biện pháp bảo đảm lợi ích cho phụ nữ nông thôn.
- Lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm: Khóa luận ứng dụng ba lý thuyết trụ cột:
- Thuyết hệ thống (Systems Theory): Nhìn nhận nhóm và gia đình như một hệ sinh thái có các tiểu hệ thống tương tác qua lại, chịu ảnh hưởng từ môi trường sống.
- Thuyết động năng tâm lý (Psychodynamic Theory): Giải thích hành vi và cấu trúc cá tính thông qua các trải nghiệm quá khứ, cơ chế tự vệ và phản ứng chuyển giao tâm lý trong nhóm.
- Thuyết học tập xã hội (Social Learning Theory): Xem xét sự tiếp thu kiến thức và biến đổi hành vi qua quá trình quan sát, bắt chước và củng cố tương tác. Bên cạnh đó, tác giả liên hệ các thuyết vai trò, thuyết trao đổi xã hội và thuyết xung đột.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các công cụ: phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu (văn kiện, báo cáo địa phương, công trình khoa học); phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân; và phương pháp quan sát thực địa. Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm số liệu khảo sát thực tế tại các hộ gia đình ở xã Tân Lập, số liệu thống kê nhân sự năm 2007 của xã, cùng các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng kết năm 2010 của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tân Lập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về giới, bình đẳng giới và phương pháp công tác xã hội nhóm. Tác giả chỉ rõ lịch sử phát triển của vấn đề giải phóng phụ nữ gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, từ chế độ thị tộc mẫu hệ, chế độ phụ quyền nô lệ, phong kiến đến cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phân tích sâu sắc ở ba khía cạnh: yêu cầu xóa bỏ định kiến gia trưởng, trách nhiệm hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, cùng ý thức tự vươn lên của bản thân phụ nữ.
Nội dung chương cũng tổng thuật chi tiết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ Đổi mới, cam kết quốc tế qua Cương lĩnh hành động Bắc Kinh và Công ước CEDAW. Về mặt nghiệp vụ, chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành ngành công tác xã hội nhóm từ thế kỷ XIX (gắn với các hoạt động từ thiện tôn giáo), bước chuyển chuyên nghiệp hóa từ thập niên 1950 (thành lập Hiệp hội Công tác Xã hội Nhóm Hoa Kỳ năm 1955) cho đến sự phát triển của các mô hình câu lạc bộ, nhóm tự lực tại Việt Nam; từ đó xác lập các quy chuẩn lý thuyết hệ thống, lý thuyết tâm lý động năng và lý thuyết học tập xã hội làm kim chỉ nam cho hoạt động can thiệp.
Chương 2: Thực trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình ở xã Tân Lập huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Chương 2 mô tả bối cảnh địa phương và công bố các kết quả điều tra thực chứng. Xã Tân Lập là một xã miền núi nằm ở phía Bắc huyện Sông Lô (huyện được thành lập từ tháng 4/2009 trên cơ sở chia tách huyện Lập Thạch), gồm 8 thôn: Xy Hạ, Xy Thượng, Thụy Điền, Cầu Gạo, Đồng Sinh, Cẩm Bình, Cẩm Bình Kha... Toàn xã có 100% dân số sống bằng nông nghiệp (trồng lúa, ngô, lạc, đỗ, chăn nuôi), hạ tầng giáo dục có 3 trường thuộc 3 cấp học, y tế cơ sở gồm 1 trạm y tế với 6 nhân viên (1 bác sĩ, 3 y tá, 2 nữ hộ sinh).
Dựa trên số liệu thu thập, tác giả chỉ ra các khía cạnh bất bình đẳng giới rõ nét:
- Phân công lao động sản xuất và tái sản xuất: Trong sản xuất nông nghiệp, nam giới thường làm các khâu cơ bắp (làm đất, phun thuốc trừ sâu), phụ nữ đảm nhận việc cấy hái, phơi sấy, bán sản phẩm. Tuy nhiên, khi phụ nữ làm cả công việc đồng áng hoặc thay thế nam giới đi làm xa, gánh nặng nội trợ vẫn đè nặng lên vai họ do nam giới mặc định công việc nhà là việc của đàn bà.
| Loại công việc gia đình |
Chồng đảm nhận chính (%) |
Vợ đảm nhận chính (%) |
Cả hai cùng làm (%) |
| Đi chợ |
5,0% |
75,0% |
20,0% |
| Giặt quần áo |
3,0% |
87,0% |
10,0% |
| Chăm sóc người già, người ốm |
Số liệu thấp |
Chiếm đa số |
Thấp |
| Dạy trẻ học |
35,0% |
Chiếm đa số |
Thấp |
-
Sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình: Thói quen sinh nở thiếu an toàn còn tồn tại khi có tới 65% phụ nữ được hỏi chọn sinh tại nhà, chỉ 35% đến cơ sở y tế. Về việc tìm hiểu kiến thức sức khỏe sinh sản, 85% người trả lời là phụ nữ, trong khi nam giới chỉ chiếm 15%. Tư tưởng mong muốn có con trai nối dõi dẫn tới tình trạng phá thai khi biết mang thai bé gái hoặc cố sinh con thứ 3, thứ 4, thứ 5. Báo cáo tháng 12/2010 của Hội Phụ nữ xã ghi nhận trong năm có 28 bé trai nhưng chỉ có 12 bé gái được sinh ra. Toàn bộ gánh nặng kế hoạch hóa gia đình dồn vào phụ nữ: năm 2010 có hơn 200 phụ nữ đặt vòng, 153 người dùng thuốc tránh thai, 7 ca đình sản nữ; trong khi việc sử dụng bao cao su ở nam giới rất thấp và chỉ có 3 ca triệt sản nam. Tình trạng thiếu máu, thiếu sắt khiến năm 2010 có 25 sản phụ sinh non và 5 trẻ sơ sinh nhẹ cân (< 2,7 kg).
-
Hoạt động cộng đồng và cơ cấu quyền lực: Mặc dù phụ nữ tham gia tích cực vào các hoạt động tình làng nghĩa xóm (giúp ma chay, cưới hỏi, nấu nướng, dọn vệ sinh), nam giới lại chiếm ưu thế tuyệt đối ở các diễn đàn ra quyết định. Khi họp thôn xóm, tỷ lệ tham gia chính của nam giới là 80,0%, phụ nữ chỉ có 15,0% (thường ngồi cuối phòng và e dè không phát biểu). Khảo sát câu hỏi "Ai giữ quyền lãnh đạo nhiều hơn ở địa phương?" ghi nhận 80,0% ý kiến khẳng định là nam giới, chỉ 20,0% chọn phụ nữ. Số liệu thống kê năm 2007 cho thấy tỷ lệ cán bộ nữ cơ sở rất hạn chế: Ủy ban nhân dân xã có 2/11 người, Hội đồng nhân dân xã 10/26 người, Ban Chấp hành Đảng ủy 1/6 người, Bí thư chi bộ thôn 0/6 người, Trưởng thôn 1/8 người.
-
Nhận diện bạo lực gia đình: Khảo sát cho thấy nhận thức của cộng đồng còn phiến diện, chỉ tập trung vào hành vi có vết tích thể xác mà xem nhẹ bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục.
| Các hành động được đưa ra khảo sát |
Là bạo lực (%) |
Không là bạo lực (%) |
Khó trả lời (%) |
| Đánh đập gây tổn thương thân thể |
95,0% |
— |
— |
| Chửi bới, lăng mạ, nhạo báng gây tổn thương tâm lý |
78,0% |
— |
— |
| Ngăn cấm, đe dọa vô lý |
54,0% |
— |
— |
| Ép buộc trong sinh hoạt tình dục |
35,0% |
55,0% |
10,0% |
- Tiếp cận, kiểm soát nguồn lực và quyền ra quyết định:
| Lĩnh vực hoạt động trong gia đình |
Vợ (%) |
Chồng (%) |
Cả hai (%) |
| Quyết định chi tiêu hàng ngày |
80,0% |
12,0% |
8,0% |
| Quyết định việc hôn nhân của con |
24,0% |
58,0% |
18,0% |
| Quyết định việc học, hướng nghiệp của con |
14,0% |
Chiếm đa số |
— |
| Đứng tên quyền sở hữu tài sản có giá trị |
10,0% |
85,0% |
5,0% |
| Quyết định mua sắm tài sản đắt tiền |
21,0% |
Chiếm đa số |
— |
Tác giả rút ra nghịch lý: phụ nữ được coi là "tay hòm chìa khóa" nhưng thực chất chỉ nắm các khoản chi tiêu nhỏ lẻ hàng ngày; các quyết định trọng đại về kinh tế, đất đai, nhà cửa và tương lai của con cái đều do người chồng định đoạt.
Chương 3: Giải pháp cơ bản và vận dụng một số phương pháp Công tác xã hội nhóm xây dựng mô hình can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn ở xã Tân Lập huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Chương 3 đề xuất định hướng giải quyết vấn đề dựa trên năng lực chuyên môn của công tác xã hội. Bên cạnh các giải pháp mang tính vĩ mô của hệ thống chính trị cơ sở (tăng cường tuyên truyền, nâng cao năng lực cho cán bộ phụ nữ, phổ biến Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình), trọng tâm của chương là quy trình vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm. Tác giả thiết kế mô hình can thiệp nhóm với các bước: xác định nhu cầu, tập hợp các đối tượng phụ nữ chịu ảnh hưởng của định kiến gia đình, xây dựng quy chế và mục tiêu sinh hoạt nhóm, tổ chức các buổi chia sẻ tương tác nhằm nâng cao nhận thức giới, tập huấn kỹ năng ứng phó với bạo lực, rèn luyện kỹ năng tự chủ kinh tế và thúc đẩy sự chia sẻ trách nhiệm từ các thành viên nam giới trong gia đình.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về quan hệ giới tại một địa bàn nông thôn miền núi cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu định lượng:
- Ghi nhận thực trạng phân công lao động bất đối xứng: 87,0% phụ nữ chịu trách nhiệm giặt giũ và 75,0% phụ nữ chịu trách nhiệm đi chợ chính; trong khi nam giới chỉ chiếm lần lượt 3,0% và 5,0%.
- Chỉ rõ nhận thức lệch lạc về sức khỏe sinh sản: 65,0% phụ nữ sinh tại nhà; 85,0% phụ nữ tự tìm hiểu thông tin sức khỏe sinh sản; chênh lệch giới tính khi sinh năm 2010 lên tới 28 bé trai trên 12 bé gái.
- Phản ánh lỗ hổng nhận thức về bạo lực tình dục trong hôn nhân khi có tới 55,0% người dân không coi ép buộc quan hệ tình dục là bạo lực gia đình.
- Phân tích sự chênh lệch trong quyền tài sản: 85,0% tài sản có giá trị do người chồng đứng tên, phụ nữ chỉ nắm quyền kiểm soát đối với chi tiêu sinh hoạt hàng ngày (80,0%).
- Thống kê tỷ lệ tham chính thấp của phụ nữ cơ sở: 2/11 thành viên UBND xã và 0/6 Bí thư chi bộ là nữ (theo số liệu năm 2007).
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên về thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình tại xã Tân Lập, huyện Sông Lô. Điểm mới của khóa luận nằm ở việc không dừng lại ở góc độ xã hội học mô tả mà vận dụng trực tiếp các phương pháp và kỹ năng chuyên biệt của ngành công tác xã hội nhóm để đề xuất mô hình giải quyết vấn đề xã hội tại địa bàn. Về mặt ứng dụng, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn giúp chính quyền địa phương, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tân Lập và huyện Sông Lô điều chỉnh chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi một xã thuần nông (Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc), chủ yếu khảo sát các mối quan hệ nội bộ gia đình giữa vợ và chồng. Nguồn dữ liệu thứ cấp và các báo cáo khảo sát phản ánh thực trạng tại thời điểm nghiên cứu (giai đoạn 2007–2010), do đó các biến động xã hội trong những giai đoạn phát triển sau này chưa được cập nhật.
Hướng phát triển tiếp theo của đề tài là mở rộng quy mô khảo sát so sánh giữa các xã khác nhau trên địa bàn huyện Sông Lô hoặc giữa các huyện miền núi thuộc tỉnh Vĩnh Phúc; triển khai thử nghiệm thực tế mô hình công tác xã hội nhóm đã thiết kế để đo lường hiệu quả can thiệp; đồng thời phân tích sâu hơn tác động của làn sóng dịch chuyển lao động nông thôn ra các khu công nghiệp tới sự biến đổi cơ cấu quyền lực gia đình.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Giới và Phát triển tham khảo về phương pháp kết hợp giữa lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công ước quốc tế CEDAW với quy trình nghiên cứu thực nghiệm xã hội.
- Cán bộ làm công tác phụ nữ, cán bộ văn hóa - xã hội, lãnh đạo Đảng ủy và Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện trong việc xây dựng các đề án bình đẳng giới, chương trình phòng chống bạo lực gia đình và kế hoạch đào tạo cán bộ nữ cơ sở.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm hệ thống bảng hỏi, phương pháp xử lý số liệu điều tra thực trạng tại Chương 2 và nội dung tổng hợp các văn bản chính sách, nghị quyết của Đảng về phụ nữ từ năm 1930 đến Đại hội X tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại nhà ở xã Tân Lập trong khóa luận được ghi nhận là bao nhiêu và do những nguyên nhân nào?
Khảo sát thực tế trong khóa luận cho thấy có tới 65,0% phụ nữ tại xã Tân Lập chọn sinh con tại nhà, chỉ có 35,0% chọn sinh tại cơ sở y tế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý e ngại, sự chủ quan về sinh nở và sự thiếu thốn về phương tiện đi lại tại địa bàn miền núi.
2. Số liệu chênh lệch giới tính khi sinh tại xã Tân Lập năm 2010 phản ánh điều gì?
Theo Báo cáo tháng 12/2010 của Hội Phụ nữ xã, toàn xã có 28 bé trai và 12 bé gái được sinh ra trong năm. Sự chênh lệch lớn này phản ánh tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ" và áp lực phải sinh con trai nối dõi tông đường vẫn bám rễ sâu sắc trong nếp nghĩ của người dân, dẫn tới việc lạm dụng siêu âm để can thiệp giới tính thai nhi hoặc cố sinh nhiều con.
3. Nhận thức của người dân xã Tân Lập về bạo lực tình dục trong gia đình có điểm gì đáng lưu ý?
Trong khi các hành vi bạo lực thể xác (đánh đập gây thương tích) và bạo lực tinh thần (lăng mạ, chửi bới) được người dân nhận diện là bạo lực với tỷ lệ lần lượt 95,0% và 78,0%, thì hành vi ép buộc sinh hoạt tình dục chỉ có 35,0% người được hỏi coi là bạo lực; có tới 55,0% không coi đó là bạo lực và 10,0% chọn phương án khó trả lời. Điều này cho thấy nhận thức về bạo lực tình dục trong hôn nhân tại địa phương còn rất hạn chế do người dân coi đây là chuyện kín đáo, riêng tư của vợ chồng.
4. Khóa luận ghi nhận mức độ tham gia của phụ nữ xã Tân Lập vào bộ máy lãnh đạo cơ sở như thế nào?
Theo số liệu thống kê năm 2007 được trích dẫn trong khóa luận, phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo tại địa phương rất thấp: chỉ có 2/11 người trong Ủy ban nhân dân xã, 10/26 đại biểu Hội đồng nhân dân xã, 1/6 đồng chí trong Đảng ủy xã, 1/8 Trưởng thôn và không có nữ Bí thư chi bộ thôn nào (0/6).
5. Sự phân công quyền lực giữa vợ và chồng tại địa phương thể hiện sự bất bình đẳng qua những số liệu nào?
Số liệu khảo sát tại Chương 2 cho thấy phụ nữ chiếm 80,0% quyền quyết định các khoản chi tiêu hàng ngày nhỏ lẻ trong gia đình ("tay hòm chìa khóa"). Ngược lại, nam giới nắm quyền chi phối tuyệt đối ở các vấn đề lớn: 85,0% người chồng đứng tên sở hữu tài sản có giá trị (phụ nữ chỉ có 10,0%), và 58,0% người chồng giữ quyền quyết định hôn nhân của con cái (phụ nữ chỉ chiếm 24,0%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Nhung đã phác thảo bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình nông thôn tại xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hệ thống chứng cứ định lượng cụ thể. Bằng việc phân tích sâu sắc các chiều cạnh phân công lao động, sức khỏe sinh sản, bạo lực gia đình và quyền kiểm soát tài sản, công trình đã chỉ rõ nguyên nhân bắt nguồn từ tư tưởng gia trưởng và định kiến giới truyền thống. Khóa luận khẳng định tính cần thiết và tiềm năng ứng dụng của phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, thúc đẩy sự chia sẻ của nam giới và từng bước hiện thực hóa mục tiêu bình đẳng giới tại cơ sở.