Chương I TỔNG QUAN 1. Đặc điểm dinh dưỡng và phát triển của trẻ gái 11 - 13 tuổi Phát triển và tăng trưởng là hai quá trình sinh học khác nhau của thời kỳ phát triển trẻ. Quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể luôn xảy ra trong một trạng thái động để thích ứng với môi trường bên ngoài. Các tổ chức của cơ thể luôn phát triển và tự đổi mới bằng cách sử dụng những chất dinh dưỡng cần thiết lấy từ môi trường bên ngoài [15], [16], [17].
Tuổi vị thành niên được coi là giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và hoàn thiện cơ thể với nhiều lý do. Thứ nhất trong giai đoạn này, trẻ tăng khoảng 65% trọng lượng so với thời kỳ chưa thành niên hoặc 40% so với trọng lượng lúc trưởng thành, chiều cao tăng khoảng 15% so với chiều cao lúc trưởng thành [2]. Thứ hai, có thể có các yếu tố văn hóa xã hội hoặc thay đổi cuộc sống, phong cách và thói quen ăn uống của thanh thiếu niên có thể ảnh hưởng đến cả chất lượng và nhu cầu dinh dưỡng [1], [17]. Thứ ba, thanh thiếu niên đang phát triển sẽ tăng nhu cầu dinh dưỡng trong khi mang thai và bệnh tật [18].
Thứ tư, tuổi mới lớn có thể là cơ hội thứ hai để bắt kịp tăng trưởng nếu điều kiện môi trường sống và bổ sung dinh dưỡng phù hợp [2]. Cuối cùng, giai đoạn này dễ ảnh hưởng tâm lý, có thể tác động đến thói quen tiêu cực trong ăn uống làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển [2]. Đặc điểm nhân trắc của trẻ gái 11 - 13 tuổi Tầm vóc của con người được quyết định trong giai đoạn tăng trưởng, tức là khoảng 25 năm đầu đời, trong đó giai đoạn 1000 ngày vàng là giai đoạn quan trọng nhất. Giai đoạn vị thành niên là quan trọng thứ hai, đây là giai đoạn chuyển tiếp khi trẻ em trở thành người lớn.
Trong thời gian này, sự phát triển về tầm vóc hoặc chiều cao được thúc đẩy bởi những thay đổi về nội tiết tố, làm trẻ phát triển nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong cuộc đời [3]. Tuổi vị thành niên là giai đoạn tăng trưởng 5 nhanh thứ hai có thể đóng vai trò là cửa sổ cơ hội bù đắp cho thất bại tăng trưởng sớm ở trẻ nhỏ, mặc dù tiềm năng để bắt kịp đáng kể là hạn chế [1], [4]. Trên thế giới, tuổi dậy thì thường bắt đầu ở độ tuổi 8 - 12 tuổi ở trẻ em gái, độ tuổi trung bình là 10 tuổi [19]. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, tại nông thôn trẻ dậy thì muộn (13,01 ± 0,93 tuổi) so với thành thị (12,23 ± 1,01 tuổi) [20].
Sự tăng tốc về tăng trưởng trong giai đoạn dậy thì có thể đóng góp 15 đến 25% chiều cao lúc trưởng thành của một cá thể. Ở giai đoạn này, 40% đến 60% khối lượng xương đạt đỉnh và trọng lượng cơ thể người lớn đạt được lên đến 50%. Đồng thời, bộ não vị thành niên trải qua sự tăng trưởng và phát triển vượt bậc và được định hình một phần bởi xã hội, cảm xúc và tiếp xúc hành vi [21], [22]. Các nghiên cứu cho thấy trẻ gái có tiền sử suy dinh dưỡng thì rất khó phát triển chiều cao đạt tối đa giống trẻ không bị suy dinh dưỡng lúc nhỏ [3], [23].
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ tuổi dậy thì có liên quan chặt chẽ với tuổi tiền dậy thì, nếu giai đoạn tiền dậy thì trẻ có dinh dưỡng tốt, cơ thể phát triển cân đối toàn diện thì giai đoạn sau sẽ phát triển tốt, đặc biệt trong thời kỳ mang thai và nuôi con. Ngược lại nếu trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của trẻ, dẫn tới hậu quả tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động khi trưởng thành [21]. Sự phát triển chiều cao Chiều cao của một cá thể tăng trưởng mạnh mẽ trong 1000 ngày đầu tiên của cuộc đời, tức là giai đoạn bào thai và giai đoạn trẻ dưới 2 tuổi [24]. Từ sau 2 tuổi, sự phát triển chiều cao trung bình của trẻ duy trì khoảng 6 cm mỗi năm, ngay khi dậy thì được khởi phát bắt đầu có sự tăng chiều cao rõ rệt và nhanh dần trong năm đầu tiên của dậy thì, có sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng trong những giai đoạn khác nhau của quá trình dậy thì [2].
Trong giai đoạn trẻ gái vị thành niên, chiều cao tăng 15 đến 6 20% so với chiều cao của người trưởng thành. Sự tăng trưởng này còn phụ thuộc vào chế độ ăn uống, khả năng hấp thu năng lượng và sự vận động của trẻ [2], [25]. Ở nữ giới hiện tượng dừng chiều cao tăng trưởng thường sớm hơn so với nam giới khoảng hai năm, dẫn đến chiều cao trưởng thành của nam giới cao hơn nữ giới khoảng 12 - 13 cm. trong đó có khoảng 10 cm là do các thời điểm mốc liên quan đến sự tăng trưởng trong giai đoạn dậy thì.
Với nữ, thời điểm dừng tăng trưởng chiều cao có thể liên quan đến tuổi hành kinh lần đầu. Trẻ gái hành kinh sớm lúc 10 tuổi có thể phát triển thêm 10 cm sau khi hành kinh lần đầu, trong khi trẻ gái hành kinh lúc 15 tuổi chỉ tăng lên khoảng 5 cm do thời gian ngừng tăng trưởng đến sớm [2], [22].1: Đường cong phát triển chiều cao của trẻ từ sơ sinh đến 18 tuổi [25] 1. Sự phát triển cân nặng Giai đoạn dậy thì đóng góp khoảng 50% trọng lượng cơ thể lý tưởng lúc trưởng thành, với số cân nặng tăng trung bình 17,5 kg ở nữ trong suốt giai đoạn dậy thì, tốc độ tăng cân trung bình trong thời kỳ dậy thì khoảng 8,5 kg/năm với nữ. Tương tự như với tăng trưởng chiều cao, sự tăng cân trong giai đoạn dậy thì không đều nhau, cân nặng của nữ tăng nhanh trong giai đoạn đầu dậy thì, chậm lại trong thời điểm kinh lần đầu và tiếp tục tăng nhanh trong giai đoạn cuối dậy thì.
Cân nặng có thể bị ảnh hưởng lớn bởi năng lượng hấp thu và năng lượng tiêu thụ [2], [25], [26].2: Đường cong phát triển cân nặng của trẻ từ sơ sinh đến 18 tuổi [25] 1. Sự thay đổi cấu trúc cơ thể Thành phần cấu trúc cơ thể thường được phân theo đặc tính của mô và thường được phân chia thành hai khối chính: khối mỡ và khối không mỡ. Khối không mỡ gồm hai khối chính là khối xương và khối nạc, trong đó khối nạc bao gồm khối cơ và khối tế bào các cơ quan. Sự thay đổi thành phần cấu trúc cơ thể xảy ra cùng với sự thay đổi tăng trưởng về kích thước và hình dáng cơ thể trong giai đoạn thanh thiếu niên.
Tăng trưởng là làm thay đổi khối cơ và khối không mỡ trong cơ thể, cũng như sự phân bố mỡ. Các chỉ số dùng để đo lường các khối này có thể là trọng lượng tuyệt đối hay tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của khối đó so với trọng lượng toàn cơ thể, trọng lượng đo được của các khối là trọng lượng khô (không bao gồm khối nước). Chỉ số khối cơ thể trong giai đoạn dậy thì có sự thay đổi mạnh mẽ do sự thay đổi nồng độ nội tiết tố của trẻ [26]. Nghiên cứu theo chiều dọc của 130 nam giới và 114 nữ giới, độ tuổi từ 8 - 20 tuổi, của SS Guo và cộng sự tại Hoa Kỳ theo dõi các giá trị đo được phần trăm mỡ cơ thể, khối lượng mỡ và khối không mỡ của các cá thể từ khi còn nhỏ sang tuổi trưởng thành đã cho thấy sự thay đổi khối lượng mỡ, phần trăm mỡ và khối lượng mỡ theo giới tính tăng lên theo độ tuổi [27].
8 Khối mỡ là một khối thay đổi mạnh nhất trong thời kỳ dậy thì nữ, vì nó liên quan chặt chẽ đến sự thay đổi nồng độ nội tiết tố sinh dục nữ. Khi trưởng thành, tỷ lệ mỡ cơ thể bình thường là khoảng 23% đối với phụ nữ [2]. Tính đến thời điểm hoàn tất dậy thì, khối mỡ trong cơ thể nữ tăng lên 120% so với thời điểm bắt đầu dậy thì, tương đương với trọng lượng khối mỡ tăng thêm 11,4 kg. Tỷ lệ mỡ cơ thể trung bình ở nữ tăng lên 16% trọng lượng cơ thể ở giai đoạn đầu của dậy thì lên đến 27% trọng lượng cơ thể vào giai đoạn cuối dậy thì [1], [28].
Khoảng 45% khối lượng xương cơ thể được hình thành trong giai đoạn đầu trẻ vị thành niên và đến cuối giai đoạn vị thành niên trẻ hình thành được 90% khối lượng xương. Những trẻ gái bị dậy thì muộn thì không đạt được khối lượng xương ở mức bình thường như tỷ lệ trên và hiển thị mật độ xương thấp hơn khi trưởng thành [2]. Việc xác định sớm các yếu tố liên quan đến mật độ xương thấp ở tuổi vị thành niên và cung cấp tư vấn về bổ sung dinh dưỡng, tập thể dục và lối sống lành mạnh có thể giúp thanh thiếu niên tăng tối đa khối lượng xương trước khi hoàn thiện quá trình phát triển xương. Bất kỳ sự mất cân bằng đáng kể nào trong quá trình hình thành xương, đều dẫn đến xương không khỏe mạnh.
Còi xương, nhuyễn xương và loãng xương đại diện cho các trạng thái bệnh thứ phát do rối loạn tích lũy chất khoáng trong xương. Canxi, phốt pho, magiê, vitamin D cũng như các khoáng chất và vitamin khác đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và duy trì sức khỏe của xương. Vitamin C và vitamin K rất quan trọng đối với sự tổng hợp collagen và protein nền xương. Bổ sung axit folic, vitamin B12 và vitamin B6 có thể cải thiện sức khỏe của xương và giảm nguy cơ gãy xương thông qua việc giảm homocysteine [29].
Ngoài sự hoàn thiện về cấu trúc cơ thể thì trẻ cũng dần hoàn thiện các chức năng sinh sản trong thời kỳ thiếu niên. Quá trình hoàn thiện của các cơ quan sinh sản và phát triển các đặc điểm sinh dục thứ cấp, bao gồm lông mặt ở nam và phát triển vú ở nữ, diễn ra trong tuổi dậy thì. Các bé gái qua cơn đau bụng kinh và lần xuất hiện đầu tiên của kinh nguyệt trong giai đoạn phát triển này, thường là sau thời kỳ tăng 9 trưởng chiều cao và cân nặng [30]. Trong thời kỳ này, mặc dù chức năng các bộ phận cơ thể đã tương đối hoàn thiện, nhưng chưa ý thức được việc tự chăm sóc sức khỏe nên trẻ em đã có các đặc điểm bệnh lý như nhiễm giun sán, tiêu chảy, các bệnh đường hô hấp, mắt, răng miệng.