Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 1. Khái niệm thiếu năng lượng trường diễn Thiếu năng lượng trường diễn là tình trạng mà một cá thể ở trạng thái thiếu cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao dẫn đến cân nặng và dự trữ năng lượng của cơ thể thấp. Những người thiếu NLTD có chuyển hoá năng lượng thấp hơn bình thường và giảm hoạt động thể lực dẫn đến khẩu phần ăn vào thấp hơn bình thường [5].
Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ số khối cơ thể, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành, theo phân loại của WHO năm 2000 [25]. Cân nặng (kilogam) BMI = (Chiều cao)2 (met) BMI < 16,0 (kg/cm2) Thiếu NLTD độ III BMI từ 16,0 – 16,9 (kg/cm2) Thiếu NLTD độ II BMI từ 17,00 – 18,4 (kg/cm2) Thiếu NLTD độ I BMI <18,5 (kg/cm2) Thiếu năng lượng trường diễn BMI từ 18,5-24,9 (kg/cm2) Bình thường BMI từ 25 -29,9 (kg/cm2) Thừa cân BMI ≥ 30 (kg/cm2) Béo phì Để đánh giá mức độ thiếu NLTD trên quần thể, WHO cũng đã đưa ra ngưỡng đánh giá về mặt ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng như sau: + Mức độ nhẹ: Tỷ lệ thiếu NLTD 5 - 9% 5 + Mức độ trung bình: Tỷ lệ thiếu NLTD 10 - 19% + Mức độ nặng: Tỷ lệ thiếu NLTD 20 - 39% + Mức độ rất nặng: Tỷ lệ thiếu NLTD ≥ 40% 1. Nguyên nhân của thiếu năng lượng trường diễn Thiếu NLTD là tình trạng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố [7], [8]. Nguyên nhân chính của thiếu NLTD là thiếu năng lượng khẩu phần, thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình.
Có nhiều nghiên cứu đã xác định khẩu phần ăn có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng thiếu NLTD trên đối tượng PNTSĐ. Nghiên cứu bệnh chứng của Asamre Wubie năm 2019 tại Ethiopia, phụ nữ ăn dưới 3 bữa một ngày có nguy cơ bị thiếu NLTD cao gấp 5 lần so với phụ nữ ăn từ 3 bữa trở lên (p<0,05) [26]. Nghiên cứu của Saba Abraham tại Ethiopia và nghiên cứu của Yichen Jin tại Ấn Độ cho rằng chế độ ăn uống không đủ chất và tần suất bữa ăn là những yếu tố liên quan đền tình trạng thiếu NLTD [27], [28]. Bên cạnh đó, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế hộ gia đình, tiếp cận dịch vụ y tế, gánh nặng về công việc gia đình và tình trạng bất bình đẳng giới ở những nước nghèo và đang phát triển được xem là nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến thiếu NLTD.
Nghiên cứu của tác giả Asvini K. Subasinghe về thiếu NLTD ở nông thôn Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu NLTD ở PNTSĐ là 41,5%, phụ nữ là nông dân chiếm 52% cao hơn các nhóm phụ nữ khác (p < 0,05), phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập thấp bị thiếu NLTD (46%) cao hơn phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập cao hơn (34%; p < 0,01) [29]. Điều tra sức khỏe gia đình quốc gia Ấn Độ 2016 của tác giả Supa Pengpid, phụ nữ học vấn thấp hơn, thuộc hộ nghèo có tỉ lệ thiếu NLTD cao hơn nhóm còn lại [30]. Một nghiên cứu khác tại Ethiopia, những phụ nữ có hai con trở lên có tỷ lệ thiếu NLTD cao hơn đáng kể so với những phụ dưới 2 con [31].
Số liệu điều tra Giám sát dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng năm 2014 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ 15-49 bị thiếu NLTD ở vùng thành thị là 12,1% và vùng nông thôn là 16,3% [16]. Nghiên cứu của tác giả Võ Phạm Mi Trang năm 2020 cho thấy, những công nhân có thu nhập thấp có nguy cơ bị thiếu NLTD cao hơn nhóm còn lại (p < 0,05) [32]. Hậu quả của thiếu năng lượng trường diễn Thiếu NLTD gây ra nhiều hậu quả cho PNTSĐ. Những người bị thiếu NLTD dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và giảm khả năng đáp ứng miễn dịch dẫn đến chậm hồi phục khi mắc bệnh.
Thiếu NLTD ở người mẹ làm tăng nguy cơ tử vong con và có liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng của những đứa trẻ do họ sinh ra. Hàng năm có khoảng 500 ngàn phụ nữ trên toàn thế giới tử vong do mang thai và sinh nở. Suy dinh dưỡng ở đối tượng có liên quan trực tiếp với bệnh tật thể hiện bằng nhiễm khuẩn phức tạp và làm tăng nguy cơ này ở cả mẹ và con. Liên quan giữa thiếu NLTD của mẹ với cân nặng sơ sinh thấp và chậm phát triển bào thai đã được chứng minh.
Thiếu NLTD cũng làm tăng tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng do đó dẫn đến các biểu hiện thiếu vi chất đặc hiệu như thiếu máu, các rối loạn do thiếu I-ốt v. Ngoài ra, thiếu NLTD còn ảnh hưởng xấu đến kinh tế hộ gia đình và của quốc gia do làm giảm khả năng lao động và có thể tạo ra những ảnh hưởng xấu qua nhiều thế hệ [33], [26], [34]. Những quốc gia có tình trạng thiếu NLTD phổ biến chắc chắn có liên quan tới chi phí trực tiếp bao gồm giảm thu nhập ở những nhóm dân cư bị thiếu NLTD và phải đối mặt với những vấn đề lâu dài về sau như cân nặng sơ sinh thấp, tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường khi trưởng thành. Giảm năng suất lao động kết hợp với bệnh tật ở phụ nữ bị thiếu NLTD chưa được chứng minh rõ ràng nhưng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng 60% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi có liên quan tới suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng ở trẻ có liên quan chặt chẽ với tình trạng thiếu NLTD của mẹ.
Một báo cáo từ Châu Á cho thấy thiếu NLTD giảm 10-15% năng suất lao động và 5-10% GDP [35]. Do đó, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ thì quốc gia có thể giảm chi phí chăm sóc y tế, tăng khả năng nhận thức, tăng năng suất lao động của người trưởng thành và góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tình hình thiếu năng lượng trường diễn của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ Trên thế giới Thiếu NLTD ở PNTSĐ có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của chính 7 họ cũng như sức khỏe của con cái họ. Hơn 3,5 triệu phụ nữ và trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển tử vong mỗi năm do nguyên nhân cơ bản là thiếu dinh dưỡng.
Phụ nữ có nhiều khả năng bị thiếu dinh dưỡng hơn nam giới vì một số lý do, bao gồm đặc điểm sinh học sinh sản, địa vị xã hội thấp, nghèo đói và thiếu giáo dục. Vì vậy, tình trạng dinh dưỡng đầy đủ của phụ nữ rất quan trọng để nâng cao sức khỏe và tăng khả năng lao động của bản thân phụ nữ cũng như sức khỏe của con cái họ [19], [36], [37]. Trên toàn cầu, thiếu NLTD vẫn là một thách thức lớn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. USAID khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em gái vị thành niên và PNTSĐ ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình đã cho thấy nhiều thay đổi trong tình trạng dinh dưỡng của trẻ em gái vị thành niên và PNTSĐ, phụ nữ mang thai và cho con bú ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.
Tỷ lệ thiếu NLTD ở phụ nữ đã giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng [35], [38], [39]. Nghiên cứu của tác giả Rasheda Khanam về tình trạng dinh dưỡng của 13.230 PNTSĐ ở nông thôn Bangladesh cho thấy cân nặng, chiều cao và BMI trung bình lần lượt là 44,8 ± 8,0 kg, 149,9 ± 5,6 cm và 19,9 ± 3,3 kg/m2. Nghiên cứu cũng cho thấy cho thấy 16,5% phụ nữ có chiều cao dưới 145 cm, 32,1% phụ nữ có chiều cao từ 149 cm đến dưới 150 cm và 34,3% khác có chiều cao từ 150 cm đến dưới 155 cm. Tỷ lệ thiếu NLTD là 37,0% và 7,2% thừa cân, béo phì [8].
Nghiên cứu của tác giả Margaret Bulirani đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 302 PNTSĐ (15 đến 49 tuổi) và ước tính các yếu tố nguy cơ liên quan tại quận Dedza của Ấn Độ năm 2017 cho thấy 23% thiếu NLTD theo đánh giá BMI và thường gặp hơn ở phụ nữ lớn tuổi (33 đến 49 tuổi) trong khi thừa cân có tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ trẻ (15 đến 32 tuổi) [40]. Nghiên cứu của tác giả Uzma Ilyas trên PNTSĐ ở cộng đồng nông thôn Lahore với độ tuổi ở nhóm 15-25 tuổi là 48,3%, ở nhóm 26 - 35 tuổi là 37,1% và ở nhóm > 35 tuổi là 14,6%. Có 43,7% phụ nữ bị thiếu NLTD, 45,7% có BMI bình thường và 10,6% người thừa cân [41]. Nghiên cứu của tác giả Haque MJ tại khu ổ chuột Mohakhali của thành phố Dhaka với mục đích đánh giá tình trạng dinh dưỡng của PNTSĐ, 510 phụ nữ tham 8 gia nghiên cứu với 57% số người được hỏi là các bà nội trợ và 33% là công nhân may mặc.
Cân nặng trung bình là 42,4 ± 5,7 kg; và chiều cao trung bình là 148,7 ± 4,2cm. BMI trung bình là 19,2 ± 2,4 kg/m2 và 30,8% bị thiếu NLTD (BMI < 18,5 kg/m2). Tình trạng dinh dưỡng không liên quan đáng kể đến trình độ học vấn và nghề nghiệp của đối tượng (p > 0,05) nhưng thu nhập gia đình hàng tháng cho thấy có mối liên quan thuận chiều với BMI (p < 0,05) [42]. Nghiên cứu của tác giả Asvini K.
Subasinghe về thiếu NLTD ở nông thôn Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu NLTD ở PNTSĐ là 41,5%. Phụ nữ là nông dân bị thiếu NLTD (52%) chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm phụ nữ khác (p < 0,05), phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập thấp bị thiếu NLTD (46%) cao hơn phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập cao hơn (34%; p < 0,01) [29]. Nghiên cứu của tác giả Nadia Fanou-Fogny về tình trạng dinh dưỡng và thiếu sắt ở phụ nữ thành thị Malian trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy có 16,0% phụ nữ bị thiếu NLTD, và nhóm thiếu NLTD này có nguy cơ thiếu sắt cao hơn đáng kể so với nhóm có cân nặng bình thường (p < 0,05) [7]. Nghiên cứu của tác giả RK Gautam Jr về thiếu năng lượng mạn tính trên 446 phụ nữ từ 18-60 tuổi của hai khu sinh thái ở Madhya Pradesh và Uttarakhand, Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu NLTD là 42,1%.
Tỷ lệ thiếu NLTD cao nhất ở phụ nữ Bà la môn ở Uttarakhand (58,3%), tiếp theo là Ahirwar ở Madhya Pradesh (47,1%). Tỷ lệ thiếu NLTD thấp nhất ở phụ nữ Bà la môn ở Madhya Pradesh (24,0%) [43].