Chương 1: Cơ sở chính trị pháp lý thực hiện pháp luật bình đẳng giới. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tiếp tục thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Kết luận 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ CHÍNH TRỊ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1.
Những khái niệm cơ bản về bình đẳng giới Phụ nữ là một nửa của thế giới, là mối quan tâm lớn của nhiều chính khách, các đảng phái chính trị của mọi quốc gia. Ngày nay, trên thế giới, mặc dù đã có nhiều quốc gia đạt được những tiến bộ quan trọng trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ song từ trước đến nay chưa ở nước nào phụ nữ được đối xử bình đẳng xứng đáng với phẩm giá và vai trò của họ “Chưa một quốc gia nào trên thế giới được công nhận đã đạt được bình đẳng giới" [24]. Bất bình đẳng giới là căn nguyên của phân biệt đối xử, lạm dụng và bóc lột và bóc lột phụ nữ. Ở Việt Nam, ghi nhận và bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ là vấn đề luôn được Đảng và nhà nước quan tâm, thể hiện trong các chính sách, pháp luật nhất quán.
Ngay từ khi thành lập Đảng (03/02/1930) quan điểm “nam nữ bình quyền” được xác định là một trong mười nhiệm vụ quan trọng yếu của cách mạng Việt Nam trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Đó cũng chính là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người luôn căn dặn các cấp uỷ Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác vận động phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Nhận định vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội, Người khẳng định: “ Nói phụ nữ là nói phần nửa của xã hội.
Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ thì giải phóng phụ nữ là xây dựng xã hội chủ nghĩa một nửa” [20]. Quan điểm đó luôn được quán triệt trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ. Khái niệm giới tính và đặc điểm của giới tính Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính lần đầu tiên được quy định cụ thể tại Điều 5 khoản 2 Luật Bình đẳng giới “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.
Như vậy, khi nói đến giới tính là nói tới các đặc điểm về cấu tạo cơ thể, liên quan đến chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới. Đây là những đặc điểm mà phụ nữ và nam giới không thể hoán đổi cho nhau. Giới tính có đặc điểm sau: Thứ nhất, giới tính là đặc trưng sinh học, được hình thành một cách tự nhiên, con người sinh ra đã có. Nó là sản phẩm của quá trình di truyền, tiến hóa sinh học rất lâu dài.
Thứ hai, giới tính có đặc điểm đồng nhất, giống nhau trên toàn thế giới. Ví dụ như ở bất cứ nơi đâu trên Thế giới phụ nữ đều có thể sinh con, cho con bú, còn nam giới thì không có khả năng này. Giới tính có những biển hiện về thể chất có thể quan sát trong cấu tạo, giải phẫu, sinh lý người (giữa nam và nữ có những đặc điểm khác nhau về gen, cơ quan nội tiết, hoóc môn, cơ quan sinh dục…). Đồng thời, giới tính gắn liền với một số chức năng sinh học, đặc biệt là chức năng tái sản xuất con người.
Thứ ba, giới tính bất biến không thay đổi về mặt không gian và thời gian. Thứ tư, giới tính nam và giới tính nữ không thể thay đổi cho nhau trong một quan hệ xã hội cụ thể. Khái niệm, đặc điểm của giới và bình đẳng giới Giới là khái niệm ra đời từ môn xã hội học, là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được.
Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam giới và phụ nữ. Tại khoản 1 điều 5 Luật bình đẳng giới quy định: “giới chỉ đặc 9 z điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [34, điều 1 khoản 5]. Giới là đặc trưng văn hóa, xã hội của đời sống nam và nữ, giới có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, giới là đặc điểm xã hội, nó không mang tính bẩm sinh như giới tính mà nó được hình thành trong môi trường xã hội, môi trường giáo dục. Ví dụ ngày nhỏ các em nam thường được giáo dục là con trai phải mạnh mẽ, không được khóc, không được mặc váy, không được đánh phấn, được cha mẹ cho chơi các trò chơi như: Đá bóng, chơi cù, chơi khăng.
còn các em gái thì thường được giáo dục là phải dịu dàng, hiền thục, được mặc váy, chơi búp bê, được đánh phấn và thường chơi những trò chơi như: Nhảy dây, chơi chuyền,. Như vậy, sở dĩ có sự khác nhau đó là do cách giáo dục. Điều này, có nghĩa theo quan điểm giới, về mặt xã hội, nam và nữ hoàn toàn bình đẳng với nhau, sự khác biệt hai giới chỉ là do nhân tạo, do quan niệm, do giáo dục, do truyền thống và quyền lực chính trị ở các thời đại tạo nên. Thứ hai, khác với giới tính, giới có tính đa dạng, có sự khác nhau ở các vùng, các quốc gia.
Ví dụ như ở một số quốc gia hồi giáo, phụ nữ chỉ đóng vai trò là người nội trợ, họ không trực tiếp tạo ra thu nhập và của cải cho xã hội, trong khi đó ở một số quốc gia Châu Á thì phụ nữ lại là lượng lao động chính trong gia đình và xã hội, còn ở Châu Âu thì phụ nữ lại tham gia nhiều vào các hoạt động chính trị, hoạt động xã hội,. Thứ ba, giới có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố xã hội, nó luôn luôn vận động không ngừng theo không gian và thời gian. Điều kiện kinh tế - xã hội quy định sự phát triển của giới trong xã hội. Thứ tư, giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặc điểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể.
Ví dụ, trong gia đình phụ nữ thường đảm nhận công việc nội trợ nhưng nam giới cũng có thể giặt giũ, chăm sóc con cái 10 z và nấu ăn.; ngoài xã hội phụ nữ thường đóng vai trò là cấp dưới và là người thừa hành nhưng phụ nữ cũng có thể giữ các cương vị như tổng thống hay chủ tịch nước. Từ những đặc điểm trên cho chúng ta thấy sự phân biệt giữa khái niệm giới với khái niệm giới tính. Sự phân biệt hai khái niệm “giới tính” và “giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: Một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định - đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên - đặc điểm giới. Như vậy, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng như thay đổi những định kiến về giới, thay đổi về cách phân công lao động trong xã hội.
Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý. Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội. Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ”, “nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật để thể hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam nữ trong các quan hệ pháp luật cụ thể. Tuy nhiên, việc nam nữ bình đẳng về địa vị pháp lý không bao hàm sự bình đẳng của nam và nữ trong tất cả các quan hệ xã hội.
Thuật ngữ "Bình đẳng giới" lần đầu tiên được quy định tại Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới được hiểu “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. 11 z Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội và là một tiêu chí văn hóa. Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: Bình đẳng trong đối xử, bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về hưởng thụ, lợi ích, bình đẳng trong kiểm soát và ra quyết định.Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội. Nam, nữ có điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng khi họ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, xuất phát từ vấn đề quyền con người, Hiến pháp đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện. Điều đó là một sự tiến bộ lớn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự.