Chương 1: Cơ sở lý luận về tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển nông thôn theo mô hình Saemaul Undong. Chương 2: Thực trạng tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển nông thôn theo mô hình Saemaul Undong ở huyện Thoulakhom, tỉnh Viêng Chăn, Lào. Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển nông thôn theo mô hình Saemaul Undong ở huyện Thoulakhom, tỉnh Viêng Chăn, Lào và một số khuyến nghị. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THEO MÔ HÌNH SAEMAUL UNDONG 1.
Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm về tham gia Tham gia của người dân là một khái niệm xuất hiện từ thập kỷ 70, nó phản ánh một sự cải cách trong con đường phát triển chuyển dịch từ tiếp cận từ trên xuống (top- down) đến tiếp cận từ dưới lên (bottum-up) xuất phát từ thất bại của các mô hình phát triển theo tiếp cận từ trên xuống đã không đáp ứng đúng điều kiện địa phương (Libati M. Tuy nhiên, sự tham gia và trao quyền chính thức trở thành ý tưởng trung tâm của phát triển nông thôn từ đầu thập kỷ 90 [24]. Các nhà nghiên cứu cũng như các tổ chức khác nhau đưa ra khái niệm khác nhau về sự tham gia.
Ngân hàng Thế giới (1994) cho rằng sự tham gia là “…một tiến trình trong đó các bên liên quan gây ảnh hưởng và chia sẻ sự kiểm soát đối với các khởi xướng, các quyết định và các nguồn lực phát triển”. Brett (2003) lại định nghĩa sự tham gia như một tiến trình giáo dục và trao quyền trong đó người dân (với sự hỗ trợ của đối tác phát triển) tự xác định vấn đề và nhu cầu, huy động nguồn lực và đóng góp trách nhiệm để lập kế hoạch, quản lý, kiểm soát và đánh giá các hành động tập thể và cá nhân mà bản thân họ quyết định. TS Mai Thanh Cúc và một số tác giả (2019) khái niệm sự tham gia là “quá trình người dân được giác ngộ, có trách nhiệm, tham gia tích cực và bền vững của cộng đồng trong quá trình phát triển, từ xác định vấn đề quy hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá và chia sẻ lợi ích” [5]. Hoàng Mạnh Quân cho rằng sự tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển có thể hiểu đơn giản là cùng tham dự, chia sẻ và hành động với nhau trong các dự án, là trạng thái mà tri thức, kỹ năng và tài nguyên của cộng đồng được huy động và áp dụng một cách đầy đủ nhất [13].
Như vậy, nhìn chung khái niệm tham gia là khá trừu tượng và có thể hiểu theo các cách khác nhau. Từ khái niệm và định nghĩa của một số tác giả trên, khái niệm sự tham gia của người dân trong các dự án phát triển nông thôn trong nghiên cứu này được hiểu là: Sự lôi cuốn người dân vào tất cả các hoạt động và các bước của chu trình dự án để họ có thể tự 11 khởi xướng, quyết định, triển khai và giám sát, quản lý các hoạt động dự án nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng xung quanh. Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng khác nhau. Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa các dạng khác nhau là không dễ dàng.
Tuy nhiên, trong bản tóm tắt của các dự án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp, tổ chức và trao quyền. Tham gia là đóng góp: Theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh đến sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án. Ví dụ như các dự án về y tế, cấp nước, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn ẩn trong sự tham gia và thực sự là cơ sở để thành công. Tham gia là tổ chức: Đã có các cuộc tranh luận rất lâu về phạm vi của lý thuyết và thực tế phát triển rằng sự tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia.
Rất ít người tranh luận về luận điểm này nhưng sẽ không đồng ý về bản chất và phát triển của sự tổ chức. Sự phân biệt giữa nguồn gốc của dạng tổ chức mà sẽ d ng như là phương tiện cho sự tham gia, hoặc các tổ chức này được giới thiệu và hình thành bên ngoài như hợp tác xã, hội nông dân, ban y tế., hay các tổ chức này xuất hiện và tự cơ cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia. Cán bộ phát triển nhìn nhận có nhu cầu lớn về hỗ trợ hình thành các tổ chức thích hợp của người nông dân, tuy vậy chỉ khuyến khích để người dân nông thôn tự quyết định bản chất và cấu trúc của tổ chức. Tham gia là trao quyền: Khái niệm vê sýò tham gia như là sýò áp duòng trao quyê n cho ngư i dân ðã ðư òc u ng hộ rộng rãi hơn trong nhý ng nãm gâ n ðây.
Tuy nhiên, ðó là một khái niệm khó ðiònh nghi a và gây ra nhiê u cách gia i thích khác nhau. Một sôì coi trao quyê n là sýò phát triê n các ky nãng và kha nãng giúp ngư i dân nông thôn qua n lý tôìt hơn, có tiêìng nói và ðàm phán v ìi hệ thôìng tô chýìc, diòch vuò phát triê n hiện có, một sôì khác laòi coi ðó là cơ ba n và câ n thiêìt liên quan ðêìn cho ph p ngư i dân quyêìt ðiònh và týò thýòc hiện nhý ng việc mà hoò cho rã ng câ n thiêìt cho sýò phát triê n cu a mình. Khái niệm phụ nữ - Phụ nữ dưới góc độ sinh học: 12 Theo Từ điển Tiếng Việt “Phụ nữ là người lớn thuộc nữ giới” [12], trong đó nữ giới là một khái niệm để chỉ giới tính của một người hay một nhóm người trong xã hội, những người mang đặc điểm giới tính nữ là những người có khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ trưởng thành và chức năng giới tính hoạt động bình thường. - Phụ nữ dưới góc độ tâm lí: Tâm lí học giới tính là những đặc điểm tâm lí chủ yếu của mỗi giới trong từng giai đoạn phát triển lứa tuổi; sự khác biệt giữa các đặc điểm đó và các nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong tâm lí giới tính ở nam và nữ.
Trong lĩnh vực tình cảm, sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ tạo nên những xúc cảm đặc biệt khi có sự giao tiếp giữa hai người khác giới, làm cho con người trở nên ý tứ, tế nhị, duyên dáng hơn hoặc thận trọng hơn. Đó chính là những cảm xúc giới tính. Những cảm xúc đó có thể tạo nên những mối quan hệ lành mạnh của tình bạn khác giới, của tình yêu lứa tuổi, của quan hệ vợ chồng giúp con người biết ứng xử với người bạn đời phù hợp hơn…Đó là điều kiện cần thiết để xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc. - Phụ nữ dưới góc độ xã hội: Trong xã hội pháp quyền, phụ nữ và nam giới đều được xã hội công nhận các quyền con người, các quyền công dân; tương đối với các quyền đó là các vai trò, vị thế xã hội của phụ nữ cũng được xác nhận.
Vai trò là những hành vi, hành động, nhưng không khuôn mẫu tác phong mà xã hội chờ đợi ở người phụ nữ phải thực hiện trên cơ sở vị thế của họ. Từ xưa đến nay, phụ nữ luôn thực hiện các vai trò kép- vừa là người công dân-người lao động, vừa là người vợ, người mẹ-người chăm lo công việc sinh sản nuôi dưỡng. Xã hội nói chung nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ thường thiên về vai trò làm vợ, làm vợ của người phụ nữ hơn là vai trò của xã hội. Quan niệm người phụ nữ biết đảm đang, thu vén việc nhà, thực hiện tốt chức năng của người vợ người mẹ sẽ được đánh giá cao hơn người phụ nữ chỉ giỏi giang công việc xã hội.
Trong xu thế phát triển của xã hội, con người kể cả nam giới và phụ nữ-ngày càng được xã hội quan tâm, đáp ứng các quyền, lợi ích, các nhu cầu một cách đầy đủ hơn. Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm môi trường văn hoá-xã hội với cách nhìn nhận và đánh giá về vai trò, vị thế của con người khác nhau mà nam giới hoặc phụ nữ còn chịu những thiệt thòi, hạn chế do định kiến giới, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại ở dạng này hay dạng khác. 13 - Phụ nữ trong tương quan với nam giới: Phụ nữ và nam giới khác biệt về đặc điểm sinh học. Còn về mối tương quan xã hội giữa nam và nữ thì tuỳ theo các giai đoạn lịch sử mà mối quan hệ đó được xã hội nhìn nhận khác nhau.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, xã hội có các nhìn nhận khách nhau về tương quan giữa phụ nữ với nam giới ở vị thế, vai trò trong gia đình và xã hội của mỗi giới. Xét trong mối tương quan, phụ nữ là một nửa của xã hội, gồm những người mà xét về mặt sinh học thuộc giống cái, phân biệt với nửa kia của xã hội là nam giới thuộc giống đực [2]. Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống cơ bản và đặc trung của loài người. Tóm lại, khái niệm “phụ nữ” để chỉ những người mà về mặt sinh học thuộc về giống cái, để hoàn thiện về mặt cơ thể, chức năng giới tính và trưởng thành về mặt xã hội [8].
Khái niệm nông thôn và đặc điểm của nông thôn Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về nông thôn, nhưng chưa có định nghĩa nào được chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1994, nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông [12]. Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thì “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã".