Chương 1 TƯ TƯỞNG HO CHÍ MINH VE VAI TRO CUA PHU NU VÀ PHÁT HUY VAI TRO CUA PHU NU’ 1. Tư tướng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ 1. Đề cao vị trí, vai trò của phụ nữ Phụ nữ là lực lượng đông đảo, chiếm một nửa xã hội. Trải qua các thời kỳ, vị trí của người phụ nữ có sự thay đổi.
Ở xã hội nguyên thuỷ, người phụ nữ gánh vác chính trong việc tái sản xuất và chăm sóc các thành viên gia đình. Đặc biệt, trong chế độ mẫu hệ, người phụ nữ vừa là người chủ gia đình vừa là người chủ xã hội, có quyền đưa ra các quyết định quan trọng. Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển hơn, của cải làm ra nhiều hơn, xã hội dần hình thành các giai cấp. Nam giới từ vị trí thấp hơn đã dần trở thành người giữ dia vị cao, thống trị trong xã hội.
Chế độ mẫu quyền chuyển sang phụ quyên. VỊ trí của người phụ nữ bị thay đổi, ho trở thành người phụ thuộc vào nam giới. Ănghen đã viết “chế độ mẫu quyền bị lật đồ, đó là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của phụ nữ. Ngay ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành dân đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần” [43, tr.
Vi trí thống trị của người đàn ông được thé hiện trong sản xuất, gia đình và xã hội. Ở các thời kỳ, chế độ khác nhau, vị trí xã hội của người phụ nữ có thé được đề cao, cũng có thể bị xem nhẹ. Nhưng trong thực tẾ, không thể phủ nhận, cho dù ở thời điểm nao, người phụ nữ vẫn có vai trò quan trọng ở cả gia đình và ngoài xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, ngay cả trong các cuộc cách mạng vẫn cần sự tham gia, đóng góp của người phụ nữ.Mác đã đưa ra nhận định: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong 11 trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức.
Người phụ nữ không bao giờ đứng ngoài va cũng không thé đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lénin, từ thực tiễn lịch sử, Hồ Chi Minh đã nhận thức vi trí, vai trò của người phụ nữ dưới góc độ khoa học và đầy tính nhân văn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò và những cống hiến của phụ nữ Việt Nam trong cách mạng. Riêng về số lượng, người phụ nữ chiếm một nửa lực lượng xã hội.
Bác nhắn mạnh “Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội” tương tự “Phụ nữ Việt Nam chiếm một nửa tổng số nhân dân ta”. Người khẳng định phụ nữ chính là lực lượng cách mang to lớn. “Noi phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.
Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nứa. Phụ nữ Việt Nam không chỉ là đông đảo về số lượng, mà theo quan điểm của Hồ Chí Minh, họ có khả năng làm được mọi việc không kém gì nam giới. Nhiều lần Người khen ngợi phụ nữ “thành tích không kém đàn ông” khi họ tham gia vào công tác dân công, tham gia sản xuất ở nông thôn, xí nghiệp. “Dưới CNXH, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ đũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông đũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực.
Trong hàng ngũ anh hùng Quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiễn, Người nhận thấy vẫn có sự xuất hiện của những tắm gương phụ nữ tiêu biểu. Họ góp phần làm nên sức mạnh, thành công của mọi cuộc cách mạng xã hội. Người rút ra kết luận “Xem trong lịch sử cách mệnh chăng có lần nào là không có đàn ba tham gia” nên “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [22, tr. 12 Dưới thời đại Hồ Chí Minh, những công hiến của người phụ nữ Việt Nam vượt qua khuôn khổ trong nước, góp phan thúc day phong trào cách mạng của phụ nữ quốc tế.
Người khăng định “Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu của Hai Bà Trưng va là lực lượng trong quốc tế phụ nữ” [27, tr. Nhận rõ được năng lực, mức độ, phạm vi đóng góp cho gia đình, cho xã hội của người phụ nữ, Hồ Chí Minh đã đặt họ vào vị trí ngang hàng với nam giới. Tư tưởng này được thé hiện xuyên suốt qua các hành động, các bài viết, bai phát biéu của Người. Như nhận định của giáo sư sử học người Mỹ G.Steven “Hai thế kỷ qua đã sản sinh ra những lãnh tụ chính trị nổi tiếng trên thế giới nhiều hơn tất cả các giai đoạn khác trong lịch sử.
Trong số những lãnh tụ là nam giới như T. chỉ có H6 Chí Minh đã luôn nói về quyền bình đăng của phụ nữ được hưởng các quyên lợi khác nhau như nam giới; chỉ có Hồ Chí Minh là thấy được rằng phụ nữ đã phải chịu đựng gánh nặng như nam giới và còn hơn thế nữa” [46, tr. Đồng thời, Người đặt họ vào vị trí của người làm chủ đất nước. Bác khuyên “Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.
Tổ chức và phát triển hợp tác xã cho tốt. Lam cho gia đình ngày càng no ấm, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước”. Trong thư gửi phụ nữ nhân ky niệm chiến thắng Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ 8/3/1952, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã khang định: “Non sông gam vóc nước Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dét thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” [27, tr. Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam khẳng định vi trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam ngang với nam giới, đặt họ vào vi trí của người chủ đất nước và thậm chí là lực lượng đóng góp vào cuộc cách mạng tiến bộ của thế giới.
Tư tưởng trên không phải do ưu ái, động viên mà đó là kết quả của sự phân tích, hiểu biết của Người về những đóng góp của phụ nữ từ trong gia đình tới ngoài xã hội. Phụ nữ giữ vai trò là “người giữ lira” trong gia đình Gia đình luôn được coi là tế bào của xã hội. Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Gia đình được củng cố là nhân tổ quan trọng, là nền tang và động lực phát triển xã hội.
Bác Hồ từng nói “Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng CNXH mà phải chú ý hạt nhân tốt. Từ xưa đến nay, đối với gia đình Việt Nam, phụ nữ luôn được coi là “người giữ lửa”. Họ thể hiện vai trò của mình thông qua thực hiện các chức năng gia đình.
Về mặt tự nhiên, người phụ nữ thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người. Sinh con, duy trì noi giống là chức năng thiên bam thuộc về người mẹ. Với thiên chức đặc biệt được tạo hoá ban tặng, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, trong dòng tộc, thậm chí quy rộng ra cả xã hội là không thê thay thế. Đây là chức năng cơ bản, cho nên dù muốn thừa nhận hay không thì người phụ nữ cũng luôn có vai trò ảnh hưởng đến xã hội.
Với con cái, người mẹ là người gần gũi và cũng không thể thay thế trong việc nuôi dạy, chăm sóc. Thông qua quá trình nuôi dạy con cái, người phụ nữ thực hiện chức năng thứ hai của gia đình — chức năng giáo dục. Cho dù sau này giáo dục đạt đến trình độ xã hội cao thì giáo dục xã hội vẫn phải dựa trên nền tảng của giáo dục gia đình. Gia đình giáo dục con cái ngay từ thuở ấu thơ, đến khi trưởng thành và thậm chí đến khi mắt đi.
Mẹ là người thầy đầu tiên bên cạnh con va day con chập chững từng bước di, day con từng câu nói và các cử chỉ, hoạt động trong sinh hoạt, dạy con các hành vi đạo đức, cách ứng xử theo chuẩn mực của xã hội. Người mẹ là chỗ dựa tâm lý tinh thần của con biết lắng nghe, khuyên nhủ con, dạy bảo con tháo gỡ những trở ngại khó khăn trong cuộc sống. Những phẩm chất quý báu của người mẹ Việt Nam như sự tan tảo, dịu hiên, đức hy sinh, sự nhãn nai, thái 14 độ hòa nhã, lòng yêu thương con, lòng bao dung độ lượng có sức cảm hóa mạnh mẽ để con cái học tập, noi theo. Tình yêu thương, sự dạy bảo của mẹ là quá trình dẫn dắt trẻ thơ thích nghi dan đời sống xã hội.
Thông qua đó, phụ nữ trao gửi tinh cảm, ngôn ngữ, trí tuệ, tư duy, phẩm chất nhân cách, lối sống. Hiểu rõ điều này, Bác coi việc nuôi dạy con cái tốt luôn là một trong “năm tốt”, phụ nữ cần phải ra sức thi đua. Nhưng Bác không dừng sự yêu thương, chăm sóc của người phụ nữ trong phạm vi gia đình cá nhân. Đặt trong văn hoá cộng đồng của người Việt, trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, có chiến tranh, Bác hướng tình yêu thương, sự chăm sóc của người phụ nữ tới cả những đứa trẻ xung quanh, không nhất thiết là con mình.
Quan điểm của Bác là “Sự săn sóc dạy dỗ cũng không chỉ nhằm làm cho con cháu mình khoẻ và ngoan, mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và khoẻ.” Trong thực tế “Về việc này chúng ta có những người gương mẫu như cụ Lê Thị Hoan. Cụ Hoan đã có công giáo dục may chục cháu xấu trở thành những cháu tốt. Nếu tất cả chị em phụ nữ ta đều cố gắng làm được như cụ Hoan thì chắc chắn con cháu chúng ta đều sẽ ngoan và tốt” [34, tr. “Con cháu chúng ta” chính là lực lượng tham gia cách mạng sau này.
Những việc làm tưởng như nhỏ, gắn với công việc hàng ngày, với tình yêu thương rộng mở có trong mỗi người phụ nữ Việt Nam, nhưng lại là đóng góp to lớn với cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam- Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”[35, tr.