MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang ngày càng phát triển. Vấn đề bính đẳng giới đã được xã hội quan tâm nhiều hơn. Theo đó, nữ giới có cơ hội được học tập, ngày càng tham gia và phát huy vai trò trong nhiều lĩnh vực xã hội, đặc biệt là những ngành nghề, những vị trí xã hội mà trước đây chỉ dành cho nam giới.
Vai trò của phụ nữ ngày càng được khẳng định nâng cao trong công việc xã hội. Đặc biệt phụ nữ không chỉ đơn thuần tham gia vào quản lý nhà nước mà ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học, nhà quản lý năng động. Vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ngày càng được nâng cao. Nữ giới làm lãnh đạo quản lý có nhiều cơ hội phát triển, nhiều thế mạnh hơn trong công việc như: trính độ học vấn, năng lực làm việc, tác phong trong công việc, sự hỗ trợ từ gia đính, sự quan tâm của xã hội.
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang có mục tiêu nâng cao tỉ lệ nữ giới lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước để đảm bảo sự bính đẳng về giới, đồng thời phát huy các tố chất thế mạnh của nữ giới trong lãnh đạo quản lý. Chiến lược Quốc gia về bính đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã chỉ ra mục tiêu cần đạt được: “Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%; phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chình trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chình trị nêu rõ: “Thực hiện nguyên tắc bính đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm; phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ Luan van 2 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ”.
Ở vào thời điểm lịch sử đất nước ta đang dần khẳng định vị thế của mình trên trường hội nhập quốc tế. Đảng và nhà nước rất quan tâm tới việc nâng cao năng lực giới nữ, đặc biệt coi trọng công tác phát triển nữ lãnh đạo quản lý. Nhận thức xã hội về vấn đề nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý ngày càng được cải thiện theo chiều hướng tiến bộ, đã tạo điều kiện tốt hơn cho phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo quản lý có nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, khác với nam giới, phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn cản trở đến công việc.
Nữ lãnh đạo quản lý vẫn bị hạn chế bởi nguyên nhân từ gia đính và phần nào đó vẫn còn bị ảnh hưởng bởi rào cản từ cái nhìn của xã hội. Tư tưởng phụ nữ không nên làm cao còn tồn tại ở nhiều nơi, trên mọi đối tượng khác nhau. Ngay cả trong chính bản thân người phụ nữ lãnh đạo, quản lý không phải đã thực sự giải phóng cho mính, mà trong tư tưởng vẫn còn mặc định khoảng cách bất bính đẳng so với nam giới. Khi tham gia lãnh đạo quản lý, họ vẫn vướng bận nhiều đến con cái và công việc tề gia nội trợ trong gia đính.
Họ vẫn xác định đó là công việc của mính trước khi nghĩ đến một ai khác. Gánh nặng hai vai giữa công việc đảm nhiệm ở cơ quan và gia đính đối với người nữ lãnh đạo quản lý thực tế vẫn còn là nguyên nhân bất lợi cho nữ giới so với nam giới. Để đảm nhận và hoàn thành tốt vai trò lãnh đạo, quản lý người phụ nữ lãnh đạo, quản lý phải vượt qua định kiến xã hội, phải giải thoát bớt sự vướng bận bởi công việc gia đính, việc chăm sóc con cái, dần tiến tới bính đẳng với nam giới. Họ cần phải có thời gian nhiều hơn dành cho công việc.
Họ phải cảm thấy yên tâm hơn khi công việc gia đính, chăm sóc con cái được san sẻ bởi nam giới hoặc người khác là tất yếu. Luan van 3 Tuy nhiên, để thực hiện tốt các mục tiêu này không phải là điều dễ dàng khi phụ nữ hiện nay vẫn còn rất nhiều khó khăn trên con đường sự nghiệp. Học viện Phụ nữ Việt Nam là cơ sở giáo dục đại học công lập, là nơi tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ (HLHPN) các cấp, cán bộ nữ cho hệ thống chình trị; Tham gia đào tạo nguồn nhân lực có trính độ cao (đại học, sau đại học), có chất lượng đáp ứng nhu cầu xã hội; Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tham mưu cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác Hội và phong trào phụ nữ; Đề xuất với Đảng, Nhà nước những vấn đề liên quan đến phụ nữ, công tác phụ nữ, bính đẳng giới và nghiên cứu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng của Học viện. Tôi đã lựa chọn tiến hành nghiên cứu đề tài “Tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý tại Học viện Phụ nữ Việt Nam” để tìm hiểu rõ hơn về những khó khăn mà người phụ nữ đang gặp phải trong công việc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến công việc của phụ nữ.
Từ đó giúp nâng cao chất lượng công tác của nữ giới trong lãnh đạo, quản lý hiện nay và tầm nhìn xa tiến tới sự bính đẳng giới trong công việc giữa nam và nữ. Vì vậy, đề tài này cần phải được tiến hành nghiên cứu. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Có rất nhiều đề tài nghiên cứu, các bài viết, các hội thảo về “Tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý”. Việc nghiên cứu các tác phẩm liên quan đến vấn đề trên và các đề tài, bài viết từ các diễn đàn hội nghị, hội thảo khoa học tại Học viện Phụ nữ Việt Nam sẽ làm tiền đề, cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này.
Trần Thị Vân Anh (2010), “Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo”. Nghiên cứu này tập trung nhiều vào các bằng chứng gây ra trở ngại cho nữ giới khi làm lãnh đạo. Qua đó có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nữ giới khi tham gia làm lãnh đạo, quản lý từ phìa gia đính, xã hội và cơ quan Luan van 4 làm việc. Tác giả cũng nêu rõ những chuẩn mực đạo đức xưa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng làm lãnh đạo của người phụ nữ.
Nam giới được coi trọng hơn nữ giới. Nếu được yêu cầu bỏ phiếu giữa nam và nữ có chuyên môn trính độ như nhau thí nam giới sẽ được lựa chọn nhiều hơn. Nam giới thường không bị ảnh hưởng nhiều bởi gia đính vào công việc nên quan niệm trọng nam giới làm lãnh đạo vẫn đang chiếm ưu thế. Mặt khác, nhiều người không muốn nữ giới làm cấp trên của mính ví đặc điểm giới.
Có thể nói, nữ giới trên con đường làm lãnh đạo, quản lý gặp nhiều khó khăn hơn nam giới. Jean Muro (2012), báo cáo (UNDP) “Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam” Báo cáo đã đưa ra được những khó khăn và nguyên nhân của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo. Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực tham chình về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo nhưng vẫn còn chưa đạt được mức mong muốn như trong các văn bản của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, đưa ra một số kết quả nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chình sách, mục tiêu về phụ nữ và lãnh đạo.
Báo cáo đã nhấn mạnh: “Mặc dù Việt Nam đạt nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩy bính đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, vẫn còn khoảng cách giữa mục tiêu và kỳ vọng được đề cập trong các văn bản của chình phủ với con số thực tế về sự tham gia của phụ nữ”. Báo cáo thiếu những phân tìch theo chiều sâu đối với phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chình trị ở Việt Nam. Đặng Thị Ánh Tuyết (2014) “Phụ nữ trong lãnh đạo chính trị ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nghiên cứu Gia đính và giới Số 5 – 2014 qua nghiên cứu về quan điểm của Đảng và Nhà nước, đề tài đã đưa ra được tính trạng bất bính đẳng giới hiện nay và đề xuất được những biện pháp khắc phục nhằm giảm tính trạng bất bính đẳng giới.
Báo cáo Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tháng 2 năm 2014, Nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam: từ tham gia đến đại diện. Công trình Luan van 5 đã đi sâu nghiên cứu về trính trạng bất bính đẳng giới ở Việt Nam trước thế kỉ 21 và đưa ra phương hướng tiến tới Việt Nam hiện nay xóa bỏ được tính trạng bất bính đẳng giới. Đinh Thị Thúy Lan (2015) “Tháo gỡ những nguyên nhân trong công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ nữ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ)”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành: khoa học quản lý Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn. Bài viết nêu lên được thực trạng nguyên nhân trong công tác lãnh đạo, quản lý cán bộ nữ về số lượng, trính độ, cơ cấu độ tuổi,.
Từ đó đưa ra giải pháp phù hợp để tháo gỡ những nguyên nhân trong công tác lãnh đạo, quản lý cán bộ nữ. Vũ Tiến Hồng; Dương Trọng Huế, Barbara Barnett và Tien-Tsung Lee cùng nhóm nghiên cứu thực hiện bằng ngân sách của tổ chức Oxfam tại Việt Nam (12/2016) “Báo chí và định kiến giới đối với lãnh đạo nữ”, báo cáo Oxfam. Bài viết nêu ra những thách thức của phụ nữ đối với báo chí truyền thông. Nguyên nhân đối với phụ nữ trong việc phấn đấu vào các vị trí lãnh đạo rất nhiều.
Song, một trong số đó là những định kiến của cử tri đối với khả năng lãnh đạo của nữ giới. Phát hiện chính của bài viết: “Tần suất xuất hiện của nữ lãnh đạo trong các bài báo và bản tin là rất thấp so với nam lãnh đạo, đặc biệt trong khối các cơ quan nhà nước.