Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ LỒNG GHÉP GIỚI 1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới 1. Khái niệm bình đẳng giới Tìm hiểu về nguồn gốc khái niệm bình đẳng giới, chúng ta đề cập ngay Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1981 (The Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women - CEDAW) [7] đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn vào ngày 18 tháng 12 năm 1979. Tuy nhiên, đến năm 1981 Công ước này bắt đầu có hiệu lực, một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ.
Theo Ủy ban CEDAW, tính đến tháng 3 năm 2005 đã có 180 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên Hợp Quốc. Ở Việt Nam, nội dung về bình đẳng giới được đề cập khá sớm trước đó, cụ thể: trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 [13], bình đẳng giới thể hiện bằng nội dung “không phân biệt giống nòi, gái trai” (Điều 1) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Dần dần nội dung bình đẳng giới rõ ràng hơn qua các lần sửa đổi Hiến pháp (năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013), theo Điều 26 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 [14] nội dung bình đẳng giới được khẳng định rõ: việc nam nữ bình đẳng về mọi mặt; quy định các chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; các nội dung nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 10 năm 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 8 n năm 2007. Luật Bình đẳng giới quy định triển khai bình đẳng giới trên lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; quy định trách nhiệm các cơ quan, tổ chức gia đình có các giải pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới. Tuy nhiên để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống không phải là dễ dàng, do sự hạn chế trong nhận thức xã hội về khái niệm "bình đẳng giới". Nếu được phỏng vấn, hiện nay không ít người vẫn chưa hiểu đúng khái niệm "bình đẳng giới" và cho rằng bình đẳng giới chỉ là bình đẳng nam - nữ; không công bằng trong bình đẳng giới nghĩa là không công bằng giữa nam giới và phụ nữ.
Thực ra vấn đề trên chỉ là một khía cạnh trong khái niệm bình đẳng giới. Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 [15]: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Như vậy, bình đẳng giới không có nghĩa là nam và nữ phải giống như nhau hay bình đẳng về mặt kết quả. Bình đẳng giới là đảm bảo rằng mỗi giới đều được phát triển trọn vẹn đúng theo tiềm năng vốn có của mình.
Bình đẳng giới, vì vậy không có nghĩa là chỉ đấu tranh vì quyền lợi của phụ nữ! Quan trọng là hình thành nhận thức xã hội đúng đắn về khái niệm bình đẳng giới sẽ là một trong những điều kiện để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống. Với những nội dung được đề cập nêu trên, trong tài liệu này nhận thấy khái niệm bao quát về bình đẳng giới vẫn là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới Theo Giáo trình giảng dạy môn thực hiện chính sách công của tác giả Phan Anh Tuấn [19], thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình 9 n chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại. Thực hiện chính sách là một hệ thống nhất - nhất là với hoạch định chính sách.
Ý nghĩa quan trọng của thực hiện chính sách công là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực hay có thể nhìn nhận rằng thực hiện chính sách là giai đoạn biến thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực. Xét về vị trí và vai trò thì thực hiện chính sách công có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng, là bước thực hiện hóa chính sách trong đời sống xã hội. Tổ chức thực hiện chính sách tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Để có được một chính sách tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu.
Nhưng dù tốt đến đâu chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện. Sẽ có 4 khả năng xảy ra khi thực hiện chính sách công: Chính sách công tốt và thực hiện tốt dẫn đền thành công; Chính sách công tốt, nhưng thực hiện tồi dẫn đến thất bại; Chính sách công tồi, nhưng thực hiện tốt dẫn đến thành công; Chính sách công tồi và thực hiện tồi dẫn đến thất bại kép. Ngoài ra, thực hiện chính sách là các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu của chính sách công, cụ thể: + Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội bằng hình thức hoạt động nào nhằm đảm bảo đạt mục tiêu được đề ra trong chính sách công. + Bằng các công cụ là các văn bản hoặc chương trình, các dự án, các kế hoạch nhằm triển khai cụ thể các hoạt động hướng để đạt mục tiêu chính sách công.
Căn cứ vào mục tiêu và giải pháp chính sách công ban đầu, tùy theo 10 n thẩm quyền các cơ quan nhà nước các cấp thiết kế, ban hành các quy định, thủ tục hoặc chương trình, dự án cụ thể hóa các mục tiêu và giải pháp cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực hiện chính sách công cụ thể. Chính sách bình đẳng giới được công bố dưới dạng Luật Bình đẳng giới năm 2006; các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư điều chỉnh các hoạt động để nam, nữ bình đẳng giới. Đối với việc thực hiện chính sách bình đẳng giới là triển khai nội dung tại các văn bản pháp luật hướng tới mục đích nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực để cả nam, nữ đóng góp sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Các yêu cầu thực hiện chính sách bình đẳng giới Trong các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội mang tính bền vững, nhân tố con người có vai trò quan trọng, quyết định nhất.
Quá trình phát triển sẽ bị hạn chế nếu như một nửa nhân loại là phụ nữ vẫn bị phân biệt, đối xử và kìm hãm sự phát triển. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bình đẳng giới là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vì thế, bình đẳng giới là một yêu cầu khách quan, một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của toàn nhân loại. Nhận thức được điều này nên bình đẳng giới đang là vấn đề quan tâm của toàn nhân loại trong đó có Việt Nam [6], chính vì vậy mà việc thực hiện chính sách bình đẳng giới phải tuân thủ và đảm bảo một số yêu cầu sau: Thứ nhất, yêu cầu thực hiện mục tiêu chính sách, muốn đạt yêu cầu này phải đảm bảo các hoạt động cụ thể: - Truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới để có thể đạt mục tiêu là bao nhiêu cán bộ, công chức, viên chức; sỹ quan, hạ 11 n sỹ quan, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang các cấp; người lao động; sinh viên, học sinh các cấp; các cụm dân cư trên địa bàn được tuyên truyền nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới và công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới để có thể đạt mục tiêu là cán bộ làm công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ, cán bộ tham mưu hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác pháp chế ở các địa phương, đơn vị được tập huấn kiến thức, kỹ năng hoạt động bình đẳng giới. - Nâng cao năng lực Hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới trong những lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao về bất bình đẳng giới Thứ hai, yêu cầu bảo đảm tính hệ thống. Chính sách bình đẳng giới nêu trên được tổ chức thực thi chính sách đã kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất, cụ thể: - Hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách; - Hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực thi chính sách; - Hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; - Hệ thống trong sử dụng công cụ chính sách với các công cụ quản lý khác của nhà nước. Thứ ba, yêu cầu các cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính khoa học, hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách công.
Tính khoa học của quá trình tổ chức thực thi chính sách bình đẳng giới phải phù hợp để tồn tại trong thực tế. Thứ tư, bảo đảm tuân thủ pháp luật trong thực hiện chính sách công. Luật gồm 6 chương, 44 điều, quy định đầy đủ các vấn đề và điều khoản nhằm thực hiện bình đẳng giới ở nước ta. Ngoài ra, tuân thủ pháp luật trong thực hiện chính sách thể hiện ở việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá 12 n trình xây dựng, ban hành Kế hoạch trên cụ thể dựa vào “Chương trình thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2020” và dự án Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015.