Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học mang tên "Vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hoá nông thôn (Nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng)" do nghiên cứu sinh Hoàng Bá Thịnh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong, hoàn thành vào năm 2001.
Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996). Tại đây, Đảng nhận định chặng đường chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó nông nghiệp và nông thôn là địa bàn trọng tâm. Khu vực nông thôn thời điểm đó tập trung 76,5% dân cư và chiếm hơn 60% lực lượng lao động của toàn xã hội. Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm (1996-2000) đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 9% đến 10%, trong đó công nghiệp tăng 14-15%/năm, nông nghiệp tăng 4,5-5%/năm, dịch vụ tăng 12-13%/năm, nhằm đưa GDP bình quân đầu người năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Sự thành bại của kế hoạch này phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nhân lực nông thôn, đặc biệt là lực lượng lao động nữ đang chiếm số đông. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: phần lớn các nghiên cứu về công nghiệp hóa chỉ tiếp cận ở bình diện vĩ mô hoặc thiếu vắng bóng dáng phụ nữ; ngược lại, các nghiên cứu về giới và phụ nữ lại chủ yếu tập trung vào vai trò nội bộ gia đình, phân công lao động gia đình, sức khỏe sinh sản hoặc bạo lực gia đình mà chưa gắn kết trực tiếp với tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xem xét vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hóa nông thôn từ góc độ nguồn nhân lực, nhằm làm rõ những thuận lợi, khó khăn cùng triển vọng của lực lượng nữ giới trong tiến trình này. Để thực hiện mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xem xét một cách khái quát về vai trò của phụ nữ nông thôn trong lịch sử và trong thời kỳ đổi mới.
- Phân tích những ưu điểm và nhược điểm của nguồn nhân lực nữ nông thôn với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Chỉ ra các khó khăn, thuận lợi về bối cảnh kinh tế - xã hội - văn hóa đối với người phụ nữ khi thực hiện vai trò trong sự nghiệp xây dựng nông nghiệp, nông thôn theo yêu cầu của công nghiệp hóa.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ nông thôn phát huy tiềm năng để đảm nhận vai trò trong công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
Các câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:
- Có phải lực lượng phụ nữ nông thôn đóng vai trò quan trọng, nếu không nói là quyết định sự thành công trong công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam?
- Phải chăng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là cơ hội phát triển đời sống kinh tế - xã hội cho phụ nữ nông thôn?
- Những khó khăn, thách thức nào mà người phụ nữ nông thôn phải đương diện trong khi thực hiện vai trò của họ trong công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn?
Tương ứng với các câu hỏi trên, 4 giả thuyết nghiên cứu được kiểm định bao gồm:
- Phụ nữ nông thôn là một lực lượng lao động - xã hội quan trọng có tính chất quyết định sự thành công trong việc thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Phụ nữ nông thôn có vai trò to lớn trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Với những phẩm chất và năng lực của phụ nữ hiện nay, họ có nhiều thế mạnh so với nam giới trong việc phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là ở phạm vi hộ gia đình hoặc các hình thức doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ.
- Tuy có nhiều tiềm năng đảm nhận vai trò trong công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, song phụ nữ ở nông thôn đang gặp một số khó khăn cả về chủ quan lẫn khách quan trong quá trình thực hiện vai trò này.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hóa nông thôn.
- Khách thể nghiên cứu: Người phụ nữ ở nông thôn khu vực đồng bằng sông Hồng.
- Phạm vi không gian: Đồng bằng sông Hồng, khảo sát thực địa trực tiếp tại hai xã: xã Giao Thịnh (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) và xã Mễ Sở (huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên); đồng thời kế thừa dữ liệu khảo sát tại 9 xã thuộc 3 huyện của các tỉnh Hải Hưng (cũ) và Ninh Bình.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn chuyển đổi kinh tế sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thập niên 1990, trọng tâm là thời kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII (1996-2000).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu theo hai mảng nội dung chính:
Thứ nhất là các công trình về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nguồn nhân lực:
- Về công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn: Các công trình của Đỗ Mười (1997), Đỗ Đức Định (1999), Võ Đại Lược (1996, 1999), Danh Sơn (1999), Phạm Xuân Hằng (2000), Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996), Hồng Vinh (1998), Nguyễn Điền (1997), Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ (1997), VACVINA (1997), Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1999), Bùi Huy Đáp và Nguyễn Điền (1996, 1998), Lê Hữu Xanh (1999), Phạm Xuân Nam (1997), cùng Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.08 do Chu Hữu Quý làm chủ nhiệm.
- Về con người và nguồn nhân lực: Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX.07 "Con người - Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" do Phạm Minh Hạc chủ nhiệm (1991-1995) với các ấn phẩm của Phạm Minh Hạc (1994, 1996, 1997); nghiên cứu của Nguyễn Minh Đường (1996), Nguyễn Anh Thu (1997), Trần Thị Tuyết Mai (1998), Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996), Nguyễn Phương Hồng (1997), Nguyễn Văn Trung (1998), Mai Quốc Khánh (1999). Các tác giả này chủ yếu xem xét chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô hoặc theo vùng lãnh thổ mà chưa đi sâu vào nguồn nhân lực nữ nông thôn.
Thứ hai là các nghiên cứu về phụ nữ, giới và sự tham gia phát triển:
- Cơ sở quốc tế: Ester Boserup (1970) với công trình "Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế" nghiên cứu phụ nữ nông dân Tây Sahara (châu Phi), lần đầu chứng minh đóng góp kinh tế của phụ nữ thường bị bỏ qua trong hệ thống thống kê quốc dân; Anthony Giddens (1997) phân tích sự thiếu vắng hình ảnh giới trong lịch sử lý thuyết xã hội học khi con người bị nhìn nhận như "giống trung"; các tài liệu về giới của Caroline Moser (1996) và Julia Cleves Mosse (1993).
- Các nghiên cứu trong nước:
- Công trình nhân học và lịch sử: Lê Thị Nhâm Tuyết với "Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại" (1973, 1975) và "Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI" (2000).
- Nghiên cứu phân công lao động theo giới: Lê Ngọc Văn (1997) khảo sát tại xã Cẩm Vũ (Hải Dương) và xã Mỹ Luông (An Giang) chỉ ra mô hình phân công lao động truyền thống vẫn duy trì (nam giới hướng vào sản xuất hàng hóa trao đổi, nữ giới gắn với sản xuất tiêu dùng và việc nhà); Lê Ngọc Văn (1999) nghiên cứu phân công lao động trong gia đình ngư dân đánh bắt hải sản; các bài viết về phân công lao động kinh tế hộ trong kinh tế thị trường và phân công lao động nội trợ [70, 71]; Nguyễn Đình Tấn và Lê Ngọc Lân (1999) nghiên cứu vai trò nam chủ hộ ngư dân ven biển.
- Nghiên cứu về ngành nghề và doanh nghiệp: Bài viết về cơ cấu kinh tế và khả năng phát triển ngành nghề của phụ nữ nông thôn tại Hải Dương và Hà Tây [82]; Lê Thi (1997, 1999) với các công trình về phát triển doanh nghiệp nhỏ và ngành nghề của phụ nữ nông thôn; bài viết về người buôn bán nhỏ ở vùng trung du Bắc bộ [39] ghi nhận 2/3 người buôn bán nhỏ là phụ nữ.
- Nghiên cứu sức khỏe và bạo lực giới: Nghiên cứu về mối quan hệ giới trong hộ gia đình [149]; Hoàng Bá Thịnh (1999) với ấn phẩm về sức khỏe sinh sản sau Hội nghị Cairo; các nghiên cứu về bạo lực dựa trên cơ sở giới của Ngân hàng Thế giới (1999) và Lê Thị Quý (1995, 1998); nghiên cứu về phụ nữ, sức khỏe và môi trường [133, 150].
- Nghiên cứu về phụ nữ và công nghiệp hóa nông thôn: Dự án của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) phối hợp với Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) năm 1996 khảo sát tại 9 xã thuộc Hải Hưng và Ninh Bình; cùng luận văn thạc sĩ và các bài báo chuyên ngành của Hoàng Bá Thịnh (1996, 1998, 1999, 2000).
Vị trí của luận án: Luận án là công trình xã hội học đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống vai trò của người phụ nữ nông thôn khu vực đồng bằng sông Hồng dưới giác độ nguồn nhân lực, lấp đầy khoảng trống kết nối giữa lý luận xã hội học về giới với thực tiễn biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về nhân tố con người, kết hợp với các lý thuyết xã hội học chuyên ngành:
- Quan điểm duy vật lịch sử của K. Marx và F. Engels (trong các tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" và "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước"): Sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp bao gồm hai mặt: sản xuất tư liệu sinh hoạt (thức ăn, quần áo, nhà ở, công cụ) và sản xuất ra bản thân con người (truyền nòi giống); phân công lao động đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một cách tự nhiên giữa nam và nữ trong hành vi sinh đẻ và chăm sóc gia đình.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí của phụ nữ trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng đất nước và luận điểm bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ.
- Lý thuyết vai trò xã hội: Khái niệm vai trò do Ralph Linton phân chia gồm "vai trò có sẵn" (gắn với dấu hiệu sinh ra như giới tính, lứa tuổi, quan hệ họ hàng) và "vai trò đạt được" (hình thành qua nỗ lực, cạnh tranh và năng lực cá nhân); các chuẩn mực và mong đợi xã hội theo phân tích của Michael Banton (1968) và Andersen (1997).
- Thuyết chức năng cấu trúc về vai trò giới của Talcott Parsons: Gia đình là trung tâm học hỏi vai trò giới; phụ nữ đảm nhận vai trò tình cảm (expressive role - nuôi dưỡng, chăm sóc, duy trì nội bộ gia đình), trong khi nam giới thực hiện vai trò công cụ (instrumental role - kiếm sống, hoạt động kinh tế đối ngoại).
- Quan điểm của R.W. Connell (1987) về 3 luận điểm giải thích vai trò giới thông qua quá trình xã hội hóa thay vì thuần túy sinh học.
- Khung phân tích ba vai trò giới của Caroline Moser:
- Vai trò sản xuất: Công việc tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật (làm ruộng, chăn nuôi, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp).
- Vai trò tái sản xuất: Chăm lo sức lao động gia đình và sinh con, nuôi dạy thế hệ tương lai.
- Vai trò cộng đồng: Gồm "tham gia cộng đồng" (công việc tình nguyện, bảo vệ tài nguyên chung, không được trả công, thường do phụ nữ làm) và "lãnh đạo cộng đồng" (các vị trí chính trị, quyền lực chính thức, thường do nam giới nắm giữ).
Khung khái niệm và biến số nghiên cứu:
- Biến số độc lập: Độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, quan niệm về vai trò giới và sự phân công lao động theo giới.
- Biến số can thiệp: Sự nghiệp công nghiệp hóa nông thôn (sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu nghề nghiệp, các chính sách xã hội về phát triển nông thôn).
- Biến số phụ thuộc: Thể hiện qua 3 nhóm vai trò của phụ nữ: vai trò sản xuất (áp dụng kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi, kinh doanh dịch vụ); vai trò tái sản xuất (chăm sóc thành viên gia đình, nuôi dưỡng và giáo dục nguồn nhân lực tương lai); vai trò cộng đồng (quản lý nông thôn, giữ gìn giá trị văn hóa, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Điều tra xã hội học bằng phỏng vấn cấu trúc: Sử dụng bảng hỏi chuẩn hóa thống nhất giữa các địa bàn, gồm các câu hỏi đóng (chiếm đa số) và câu hỏi mở. Bảng hỏi thu thập các dữ liệu về nhân khẩu học, điều kiện lao động, công cụ sản xuất, đất đai, nguồn vốn vay, thu nhập, chi tiêu, giáo dục, tình trạng sức khỏe, quan hệ gia đình và mức độ tham gia xã hội.
- Xử lý số liệu: Dữ liệu điều tra bảng hỏi được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS for Windows 6. Phân tích tương quan giữa các biến số giới tính, độ tuổi, học vấn và nghề nghiệp.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khai thác văn kiện Đại hội Đảng, báo cáo thống kê của Tổng cục Thống kê (điều tra mức sống dân cư các năm 1992-1993, 1997-1998; số liệu phát triển xã hội thập kỷ 90), báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền địa phương xã Giao Thịnh, xã Mễ Sở và các huyện liên quan.
- Phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống: So sánh biến đổi theo thời gian và không gian giữa các địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng, phân tích thống nhất giữa lôgic và lịch sử dưới lăng kính nhạy cảm giới.
Đặc trưng cơ bản của mẫu điều tra thực địa tại hai xã được tổng hợp như sau:
| Chỉ báo nhân khẩu - xã hội |
Xã Giao Thịnh (Nam Định) |
Xã Mễ Sở (Hưng Yên) |
| Năm khảo sát |
1998 |
1999 |
| Dung lượng mẫu khảo sát (người) |
365 |
410 |
| Tỷ lệ nữ giới trong mẫu (%) |
59,0 |
80,0 |
| Tỷ lệ làm nghề nông chính (%) |
70,0 - 80,0 |
70,0 - 80,0 |
| Tỷ lệ làm nghề tiểu thủ công (%) |
10,0 - 12,0 |
10,0 - 12,0 |
| Tỷ lệ làm dịch vụ, thương nghiệp (%) |
10,0 - 14,0 |
10,0 - 14,0 |
| Tỷ lệ người có vợ/chồng (%) |
94,0 |
- |
| Tỷ lệ người chưa kết hôn (%) |
0,3 |
- |
| Tỷ lệ người mù chữ (%) |
0,7 |
- |
| Tỷ lệ trình độ cao đẳng, đại học (%) |
2,7 |
0,2 |
| Tỷ lệ nhóm tuổi 18-25 (%) |
10,0 |
1,8 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Lý thuyết phát triển và vai trò của phụ nữ trong phát triển
Chương này trình bày hệ thống lý luận về phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của nguồn nhân lực nữ. Tác giả phân tích khái niệm phát triển qua các thời kỳ, xem xét động lực phát triển xã hội dưới góc nhìn xã hội học và điểm lại các trào lưu tiếp cận giới từ "Phụ nữ trong phát triển" (WID) đến "Giới và phát triển" (GAD). Luận án trích dẫn quan điểm của Ester Boserup (1970) để làm rõ thực tế là mặc dù phụ nữ giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất nông nghiệp tại các nước đang phát triển, lao động của họ lại thường không được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống tài khoản quốc gia.
Về thực tiễn Việt Nam, chương 1 phác thảo vai trò lịch sử của phụ nữ nông thôn:
- Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Lực lượng nữ nông dân vừa trực tiếp sản xuất nông nghiệp thay thế nam giới ra trận, vừa phục vụ chiến đấu thông qua các phong trào tiêu biểu như phong trào "Ba đảm đang".
- Trong thời kỳ đổi mới: Sự chuyển đổi cơ chế quản lý nông nghiệp từ mô hình hợp tác xã tập trung sang cơ chế khoán sản phẩm (chính sách Khoán 100 và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988) đã biến hộ gia đình thành đơn vị kinh tế tự chủ. Quá trình này đặt người phụ nữ vào vai trò tổ chức và trực tiếp thực hiện hầu hết các khâu sản xuất nông nghiệp.
- Quan điểm Hồ Chí Minh: Tác giả hệ thống hóa các luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, khẳng định phụ nữ là một nửa lực lượng cách mạng và xây dựng đất nước; bình đẳng nam nữ không chỉ là quyền lợi chính trị mà còn là điều kiện tất yếu để giải phóng sức sản xuất xã hội.
Chương 2. Công nghiệp hoá nông thôn và vai trò của người phụ nữ
Chương 2 là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, phân tích 5 khía cạnh biểu hiện vai trò của phụ nữ nông thôn:
-
Nguồn nhân lực quan trọng trong sản xuất nông thôn: Dữ liệu thực địa cho thấy phụ nữ chiếm số đông tuyệt đối trong lực lượng lao động nông nghiệp (từ 59% tại Giao Thịnh đến 80% tại Mễ Sở). Phụ nữ trực tiếp đảm nhận hầu hết các khâu nặng nhọc và tỉ mỉ của trồng trọt (làm đất phụ, gieo cấy, làm cỏ, chăm sóc, thu hoạch) và chăn nuôi hộ gia đình. Khi nam giới có xu hướng đi làm ăn xa hoặc chuyển dịch sang các nghề phi nông nghiệp, phụ nữ trở thành trụ cột duy trì an ninh lương thực và sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Trình độ học vấn của phụ nữ nông thôn có bước cải thiện, tạo tiền đề tiếp nhận tri thức mới.
-
Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong công nghiệp hóa nông thôn: Phụ nữ đóng vai trò chủ động trong việc tiếp thu, vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thâm canh, đưa các giống cây trồng, vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao vào đồng ruộng (vụ đông, cây dược liệu, cây ăn quả, nấm). Bên cạnh nông nghiệp, phụ nữ trực tiếp tham gia khôi phục và phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống cũng như phát triển các ngành nghề mới. Cơ cấu hộ phi nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu được ghi nhận cụ thể qua số liệu khảo sát tại xã Mễ Sở:
| Thôn |
Sản xuất vôi |
Sản xuất gạch |
Thợ mộc |
Buôn bán |
Bánh chưng, nếp |
Tổng cộng |
| Đồng Quê |
2 |
1 |
2 |
2 |
1 |
8 |
| Hoàng Trạch |
0 |
0 |
1 |
1 |
2 |
4 |
| Phúc Trạch |
1 |
1 |
3 |
0 |
0 |
5 |
| Nhạn Tháp |
0 |
0 |
1 |
1 |
1 |
3 |
| Mễ Sở |
1 |
2 |
2 |
4 |
2 |
11 |
| Phú Trạch |
0 |
0 |
2 |
1 |
0 |
3 |
| Tổng toàn xã |
4 |
4 |
11 |
9 |
6 |
34 |
Trong lĩnh vực thương mại nông thôn, phụ nữ chiếm tới 2/3 lực lượng buôn bán nhỏ, góp phần kết nối nông sản nông thôn với thị trường đô thị. Họ cũng là lực lượng chủ chốt trong các cơ sở kinh tế cá thể, doanh nghiệp quy mô vừa, nhỏ và rất nhỏ.
-
Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa nông thôn: Luận án phân tích vai trò của phụ nữ trong việc định hướng giáo dục thế hệ tương lai. Mặc dù thu nhập còn hạn chế, các gia đình nông thôn đều ưu tiên nguồn lực cho con cái học tập để có cơ hội phát triển nghề nghiệp hoặc thoát ly nông nghiệp. Phụ nữ dành nhiều thời gian chăm sóc, kèm cặp con cái học tập hàng ngày. Đồng thời, họ thực hiện vai trò tái sản xuất sức lao động cho các thành viên trưởng thành thông qua việc bảo đảm dinh dưỡng, điều kiện sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe gia đình.
-
Tham gia xây dựng nông thôn mới: Phụ nữ tham gia vào đời sống văn hóa làng xã, tổ chức các hoạt động đoàn thể của Hội Phụ nữ, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tích cực tham gia các chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, góp phần điều chỉnh mức sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, mức độ tham gia vào cơ cấu quản lý chính quyền thôn, xã của phụ nữ vẫn còn hạn chế so với nam giới.
Chương 3. Những vấn đề đặt ra đối với vai trò của phụ nữ trong công nghiệp hoá nông thôn
Chương 3 chỉ ra 4 nhóm rào cản và khó khăn chính mà phụ nữ nông thôn đang phải đối mặt:
-
Hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ thuật: Lao động nữ nông thôn phần lớn chưa qua các trường lớp đào tạo nghề hoặc kỹ thuật bài bản (tại Giao Thịnh, tỷ lệ có trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm 2,7%, tại Mễ Sở là 0,2%). Đa số sản xuất vẫn dựa trên kinh nghiệm truyền thống và lao động chân tay giản đơn, khiến năng suất lao động chưa cao và gặp trở ngại khi tiếp cận công nghệ mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp sang công nghiệp chế biến.
-
Vấn đề sức khỏe phụ nữ: Lao động nặng nhọc kéo dài kết hợp với môi trường làm việc bị ô nhiễm do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học và sự thiếu hụt nguồn nước sạch sinh hoạt dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao ở phụ nữ. Các chứng bệnh phổ biến được ghi nhận qua điều tra bảng hỏi gồm: đau đầu, chóng mặt, đau lưng, bệnh phụ khoa, bệnh đường ruột, đau mắt và thấp khớp. Bên cạnh sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần của phụ nữ cũng chịu áp lực lớn từ các mâu thuẫn gia đình, định kiến giới và nỗi lo kinh tế.
-
Gánh nặng công việc gia đình: Do tàn dư của tư tưởng gia trưởng và sự phân công lao động theo giới truyền thống, phụ nữ phải gánh vác trách nhiệm kép: vừa tham gia lao động sản xuất tạo thu nhập, vừa đảm nhiệm toàn bộ công việc nội trợ, giặt giũ, nấu nướng và chăm sóc con cái, người già mà không nhận được sự chia sẻ thỏa đáng từ nam giới. Tình trạng này làm cạn kiệt thời gian nghỉ ngơi, giải trí và cơ hội học tập nâng cao trình độ của phụ nữ.
-
Bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và cơ hội phát triển: Phụ nữ nông thôn gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức do thủ tục vay vốn phức tạp, thời hạn cho vay ngắn, lãi suất và yêu cầu tài sản thế chấp (quyền sử dụng đất thường do nam giới đứng tên chủ hộ). Ngoài ra, cơ hội tham gia các lớp tập huấn khuyến nông, dạy nghề và tham gia vào bộ máy ra quyết định ở cấp cơ sở của phụ nữ còn thấp hơn nhiều so với nam giới.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và khoa học, luận án đạt được những kết quả mới sau:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên dưới góc độ xã hội học về vai trò của người phụ nữ nông thôn đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh công nghiệp hóa nông thôn, tiếp cận từ lý thuyết nguồn nhân lực và xã hội học về giới.
- Vận dụng và kiểm chứng mô hình ba vai trò giới của Caroline Moser cùng các lý thuyết phân công lao động của chủ nghĩa Mác - Lênin và Talcott Parsons vào bối cảnh nông thôn Việt Nam thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
- Làm rõ tính hai mặt của công nghiệp hóa nông thôn đối với phụ nữ: vừa tạo ra cơ hội đa dạng hóa việc làm, phát triển kinh tế hộ và nâng cao vị thế, vừa làm gia tăng cường độ lao động và bộc lộ những rủi ro về sức khỏe, bất bình đẳng trong phân công lao động gia đình.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết và đề xuất các giải pháp khả thi:
- Đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật: Xây dựng các chương trình đào tạo nghề phi nông nghiệp, tập huấn khuyến nông ngắn hạn tại chỗ với nội dung, thời gian và chi phí phù hợp với điều kiện sinh hoạt của phụ nữ nông thôn.
- Hỗ trợ vốn và phát triển doanh nghiệp nhỏ: Cải cách thủ tục vay vốn tín dụng ngân hàng, đơn giản hóa điều kiện thế chấp, cho phép phụ nữ tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi thông qua bảo lãnh của Hội Phụ nữ để mở rộng sản xuất kinh doanh và phát triển các mô hình kinh tế vừa, nhỏ và rất nhỏ.
- Cải thiện y tế và môi trường lao động nông thôn: Tăng cường đầu tư cho trạm y tế xã trong khám chữa bệnh định kỳ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kiểm soát việc sử dụng hóa chất nông nghiệp và mở rộng mạng lưới nước sạch sinh hoạt.
- Thúc đẩy bình đẳng giới: Đẩy mạnh truyền thông cộng đồng nhằm thay đổi định kiến giới, khuyến khích nam giới chia sẻ công việc nội trợ, gia tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể địa phương theo tinh thần của Chương trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án chỉ ra các giới hạn nhất định trong phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn không gian: Địa bàn khảo sát thực địa trực tiếp chỉ giới hạn tại hai xã (Giao Thịnh thuộc Nam Định và Mễ Sở thuộc Hưng Yên), dù có tính đại diện cho vùng đồng bằng sông Hồng nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ đặc điểm đa dạng của các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau trên cả nước (như vùng núi phía Bắc, duyên hải miền Trung hoặc đồng bằng sông Cửu Long).
- Giới hạn thời gian: Khảo sát được thực hiện trong giai đoạn 1996-2000, thời điểm Việt Nam mới bắt đầu bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, các biểu hiện của chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nông thôn còn sơ khai, chưa bộc lộ toàn diện các tác động dài hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở bao gồm: mở rộng nghiên cứu so sánh vai trò của phụ nữ trong công nghiệp hóa nông thôn giữa các vùng miền sinh thái - xã hội khác nhau; nghiên cứu sâu hơn về tác động của các cụm công nghiệp nông thôn, làng nghề tập trung và các chính sách an sinh xã hội đối với lao động nữ khi tiến trình công nghiệp hóa đi vào chiều sâu.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Xã hội học, Xã hội học về Giới, Kinh tế phát triển và Phát triển nông thôn có thể khai thác khung lý thuyết tích hợp giữa lý thuyết nguồn nhân lực và khung ba vai trò giới của Caroline Moser.
- Các nhà nghiên cứu thực nghiệm có thể tham khảo bảng hỏi điều tra xã hội học chi tiết (Phụ lục 4) với các nhóm chỉ báo cụ thể về điều kiện lao động, tiếp cận tín dụng, phân công việc nhà, sức khỏe và mức độ thụ hưởng văn hóa.
- Cán bộ làm công tác phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và các nhà hoạch định chính sách lao động - thương binh - xã hội có thể sử dụng các số liệu thực chứng để xây dựng các chính sách đào tạo nghề, chính sách tín dụng vi mô và chương trình hỗ trợ phụ nữ nông thôn tham gia phát triển kinh tế hộ và doanh nghiệp nhỏ.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu mẫu nghiên cứu thực địa tại hai xã Giao Thịnh và Mễ Sở được thiết kế như thế nào?
Luận án tiến hành điều tra 365 mẫu tại xã Giao Thịnh (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) năm 1998 với tỷ lệ nữ là 59%, và 410 mẫu tại xã Mễ Sở (huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên) năm 1999 với tỷ lệ nữ chiếm 80%. Tại cả hai địa bàn, nông nghiệp là nghề chính của 70% đến 80% số hộ, tiểu thủ công nghiệp chiếm 10% đến 12%, dịch vụ buôn bán chiếm 10% đến 14%. Số liệu của phụ nữ nông thôn từ các cuộc điều tra này được tách riêng phục vụ phân tích chuyên sâu.
2. Luận án vận dụng khung lý thuyết nào để phân tích vai trò của người phụ nữ?
Tác giả vận dụng kết hợp quan điểm duy vật lịch sử của K. Marx và F. Engels về sản xuất tư liệu sinh hoạt và tái sản xuất con người; lý thuyết vai trò của Ralph Linton (vai trò có sẵn và vai trò đạt được); thuyết chức năng của Talcott Parsons (vai trò tình cảm và vai trò công cụ); và khung phân tích ba vai trò giới của Caroline Moser bao gồm: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng (gồm tham gia cộng đồng và lãnh đạo cộng đồng).
3. Bảng hỏi điều tra ghi nhận những khó khăn nổi bật nào của phụ nữ khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng?
Qua bảng hỏi, các khó khăn chính được ghi nhận gồm: thủ tục vay vốn rườm rà, thời hạn cho vay quá ngắn, số tiền được vay ít, lãi suất còn cao và trở ngại lớn nhất là yêu cầu phải có tài sản thế chấp trong khi quyền sử dụng đất và tài sản lớn trong gia đình thường đứng tên người chồng.
4. Dữ liệu văn bản phản ánh những vấn đề sức khỏe chủ yếu nào mà phụ nữ nông thôn gặp phải?
Các chứng bệnh phổ biến ở phụ nữ nông thôn được bảng hỏi ghi nhận gồm đau đầu, chóng mặt, đau lưng, bệnh phụ khoa, thấp khớp, bệnh đường ruột và đau mắt. Nguyên nhân được xác định là do cường độ lao động chân tay vất vả, gánh nặng công việc gia đình kéo dài, chế độ ăn uống dinh dưỡng chưa đảm bảo và môi trường lao động độc hại do lạm dụng hóa chất, thuốc trừ sâu kết hợp với nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ xã hội học của Hoàng Bá Thịnh (2001) đã phân tích một cách có hệ thống vai trò của người phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2000). Bằng việc kết hợp giữa lý thuyết xã hội học về giới, lý thuyết nguồn nhân lực và phương pháp điều tra định lượng thực nghiệm tại Nam Định và Hưng Yên, tác giả đã chứng minh phụ nữ là lực lượng lao động chủ chốt trong sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và bảo đảm tái sản xuất xã hội. Đồng thời, công trình chỉ rõ những rào cản nghiêm trọng về học vấn chuyên môn, sức khỏe, gánh nặng gia đình và hạn chế trong tiếp cận nguồn lực tín dụng mà phụ nữ đang gánh chịu. Các kết quả và kiến nghị của luận án cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ và thúc đẩy bình đẳng giới tại nông thôn Việt Nam.