MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt nam, phần đánh giá tổng quát chặng đường sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện (1986-1996) và 5 năm thực hiện Nghị quyết đại hội VII (1991-1995), sau khi nêu lên thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, Đảng ta nhận định rằng: “Nhiệm vụ dé ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiên dé cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ” [46, tr. 68] Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trước hết phải tập trung vào nông nghiệp, nông thôn, là khu vực có ý nghĩa quan trọng bậc nhất, bảo đảm sự phát triển ổn định tại nơi có 76,5% dân cư sinh sống và lao động trong khu vực nông nghiệp hiện chiếm hơn 60% lao động toàn xã hội, cũng là nơi đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và là một thị trường rộng lớn của công nghiệp hoá. Vì vậy Đảng ta đã nhấn mạnh một trong các nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, trong đó nội dung được xác định của thập kỷ 90 cụ thể là “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu” [46, tr.
86] kì Từ đó, Đảng ta xác định nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn là: - Phat triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong, ngoài nước. - Thuc hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh hoc hoá. - Phat triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị. - Phat triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- _ Xây dựng kết cấu ha tang kinh tế va xã hội từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại. 87] Để làm được điều đó, việc phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao mức sống, chất lượng sống cho mọi tầng lớp dân cư, thay đổi bộ mặt đất nước là một trong những ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta trong kế hoạch 1996-2000. Mục tiêu của kế hoạch 5 năm này nhằm đạt đến: “Trong vòng 5 năm tới, chúng ta tập trung sức cho mục tiêu phát triển, đạt tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm 9-10%; đến năm 2000 GDP bình quân đầu người gấp đôi năm 1990. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14- 15%/năm; nông nghiệp 4,5-5%; dịch vụ 12-13% và trong chỉ đạo thực hiện phải tranh thủ mọi khả nang mới, phấn đấu dat cao hơn” [46, tr.
34] Vì vậy, một trong những yếu tố quyết định thắng lợi kế hoạch 5 năm đã đề ra trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng. Do vậy cũng có thể nói rằng để đạt được thắng lợi trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì không thể thiếu sự đóng góp quan trọng của một nền nông nghiệp phát triển. Và, vì thế lực lượng lao động nữ ở nông thôn có một vai trò hết sức quan trọng - chính là những người góp phần không nhỏ làm nên thắng lợi này. Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về phụ nữ hoặc nghiên cứu giới đều tập trung nhiều vào các vấn đề như vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình, sự phân công lao động theo giới, vấn đề bình đẳng - công bằng giới, những khó khăn mà phụ nữ đương diện trong phát triển,.nhưng vấn đề phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn thì còn chưa được quan tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ nhữnè quan điểm nêu trên chúng tôi chọn “Vai frò của người phụ nữ trong công nghiệp hoá nông thôn” làm đề tài nghiên cứu. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2.1 Những vấn đề chung liên quan đến công nghiệp hoá. Những năm gần đây, vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thu hút nhiều người quan tâm nghiên cứu. Một số cuốn sách về lĩnh vực này đã được công bố như: Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Đỗ Mười, 1997); Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát huy lợi thế so sánh: Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á (Đỗ Đức Định, 1999); Một số vấn đề chiến lược công nghiệp hoá và lý thuyết phát triển (Đỗ Đức Định, 1999); Chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cách mạng công nghệ (Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, 1996); Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam đến năm 2000 (Võ Đại Lược, 1996); Những xu hướng phát triển của thế giới và sự lựa chọn mô hình công nghiệp hoá của nước ta (Võ Đại Lược, 1999); Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam (Danh Sơn, 1999); Khoa học xã hội và Nhân văn với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Phạm Xuân Hằng, 2000).
Bên cạnh đó, có nhiều công trình nghiên cứu về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã được công bố như: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Hồng Vinh, 1998); Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam (Nguyễn Điền, 1997); Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở nước ta (Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ, 1997); Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Trung tâm tư vấn đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn - VACVINA, 1997); Phát triển nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam (Nguyễn Văn Bích - Chu Tiến Quang, 1999); Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới (Bùi Huy Đáp - Nguyễn Điền, 1996); Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI (Bùi Huy Đáp - Nguyễn Điền, 1998); Tâm lý nông dân đồng bằng Bắc bộ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay (Lê Hữu Xanh, 1999); Phát triển nông thôn (Phạm Xuân Nam, 1997). Về đề tài khoa học, cần kể đến chương trình khoa học cấp Nhà nước KX. 08 “Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam” do Chu Hữu Quý làm chủ nhiệm. Một mang đề tài nữa cũng được quan tâm nhiều, đó là vấn dé con người và nguồn nhân lực.
Ở lĩnh vực này, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố. Trước hết, cần kể đến chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước mã số KX.07 “Con người - Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm (1991-1995), từ chương trình khoa học - công nghệ này nhiều cuốn sách đã được xuất bản như: Vấn dé con người trong công cuộc đổi mới (Phạm Minh Hạc, 1994); Phát triển giáo dục phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (Phạm Minh Hạc,1996); Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện đổi mới (Nguyễn Minh Đường, 1996). Liên quan đến vấn đề này còn có một số đề tài cấp Bộ như: Xây dựng cơ sở lý luận cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ (Nguyễn Anh Thu, 1927); Lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2020 (Trần Thị Tuyết Mai, 1998) Ngoài ra, nhiều tác giả đã đề cập đến vai trò nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở những góc độ khác nhau như: Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta (Tran Van Tùng - Lê Ái Lâm, 1996);Giáo dục nhân cách đào tạo nhân lực (Phạm Minh Hạc, 1997); Thanh niên, học sinh, sinh viên với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Nguyễn Phương Hồng, 1997); Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta (Nguyên Văn Trung, 1998) và Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Mai Quốc Khánh, 1999); và còn một số bài viết liên quan đến các vấn đề nêu trên đã đăng ở các tạp chí chuyên ngành, chúng tôi không thể nêu hết được ở đây. Nhìn chung, đó là những công trình nghiên cứu hết sức nghiêm túc và có giá trị khoa học cao.
Những công trình nghiên cứu kể trên vừa phong phú về lý luận, vừa gần thực tiễn, song những nghiên cứu này hoặc là đề cập đến tầm vĩ mô của từng lĩnh vực nghiên cứu hoặc là khái quát thực tiễn kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Ngay cả mảng đề tài về vai trò của nguồn lực con người trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các tác giả cũng đề cập ở tầm quốc gia về chiến lược phát triển nguồn nhân lực có tính đến đặc điểm văn hoá-xã hội- kinh tế từng vùng, miền. Trong khi đó vấn đề nguồn nhân lực nữ nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn lại chưa được bàn đến.2 Những nghiên cứu về phụ nữ trong công nghiệp hoá Nhiều người cho rằng trên bình diện xã hội học, khó có thể tìm thấy những nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của phụ nữ trong công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Có thể lý giải điều này từ hai góc độ chính: — Khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở Anh (thế kỷ XIX) và lan ra ở một số nước chau Au thì lúc đó ngành xã hội học mới hình thành.