Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học 1. Khái niệm về Giới và khái niệm liên quan Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được [21].
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền. Ví dụ: Người nào có cặp nhiệm sức thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sức thể giới tính XY thì thuộc về nam giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng.
Về mặt sinh lý học nữ giới khác với nam giới. * Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa động và có thể thay đổi được [21].
Sự khác biệt này được nhìn thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cứu, khó khăn thuận lợi của các giới tính. Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX,… Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới" đề cập đến việc phân công lao động các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể.“Giới” là yếu tố luôn biến n 5 đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi.
Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới" là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội. * Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới: Đặc điểm về giới: - Không tự nhiên mà có.
- Học được từ gia đình và xã hội. - Có thể thay đổi được. Nguồn gốc giới : - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tùy theo nó là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình.
Trong nhà trường, các thấy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt Về giới cho học sinh [21]. Ví dụ: Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ. * Sự khác biệt về giới: Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình.
Thiên chức của phụ nữ là làm vợ , làm mẹ , nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trạng này cho phép n 6 hộ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình.
Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức để khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc để nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới * Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): Là những mong muốn và đòi hỏi cụ thể, thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày mang đặc trưng riêng của nữ và nam [14].
Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình. Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người. Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài.
Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ: Phụ nữ mong muốn có nguồn nước sạch, nguồn chất đốt thuận lợi để lo bữa ăn cho gia đình, tắm rửa cho con cái, giặt giũ cho gia đình. Nam giới: quan tâm đến thủy lợi, công nghệ, kỹ thuật để làm tốt vai trò của người lo kinh tế, người kiếm sống cho gia đình. n 7 *Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): Là những yêu cầu, mong muốn của nữ hoặc nam mà khi được đáp ứng sẽ góp phần cải thiện địa vụ của nữ hoặc nam tạo nên quan hệ giới bình đẳng [14].
* Khoảng cách giới: Là sự chênh lệch giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể lien quan đến các điều kiện, sự tiếp cận, kiểm soát và thụ hưởng các nguồn khác nhau giữa nam và nữ [14]. * Bình đẳng giới: Nam và nữ có vị trí, vai trog ngang nhau được tạo điều kiện và cơ hội phát huy cơ hội năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [14]. Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về: - Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng. - Các cơ hội để tham gia đóng góp, hướng lợi trong quá trình phát triển.
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống. * Vai trò của giới - Vai trò sản xuất: được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội. - Vai trò tái sản xuất sức lao động: Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: Nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ,… vai trò này hầu như của người phụ nữ.
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng để thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng. Phát triển kinh tế nông thôn 1. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế *Phát triển: Là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [2]. n 8 * Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [11]. Khái niệm nông thôn Nông thôn là một phần lãnh thổ của một nhà nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp. Khái niệm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn: * Hộ gia đình: chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng * Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: - Có quan hệ huyết thống và hôn nhân - Cùng cư trú - Có cơ sở kinh tế chung [22] Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ. Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những ấngười có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống.
Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình. * Kinh tế hộ nông dân: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình để không hoàn chỉnh cao [22]. n 9 Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các h́nh thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau: * Đất đai: Nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. * Lao Động: Sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận.
Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thức hàng hoá, hộ không có khái niệm tiền công, tiền lương. Cơ sở thực tiễn 1. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất.