MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp Ngời cao tuổi (NCT) là những ngời giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các các giá trị truyền thống về đạo đức, lịch sử, văn hóa giữa các thời đại. Theo báo cáo kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở 2019, ở Việt Nam dân số đã già hóa dân số hơn dân số thế giới khoảng 16 năm. Nh vậy tông thời gian dân số Việt Nam già hóa nhanh so với mức chung của thế giới là khoảng 96 năm, vấn đề GHDS ở Việt Nam đang trở thành thách thức đối với nền kinh tế - XH.
Điều này đặt ra thách thức rất lớn cho Nhà nớc trong việc giải quyết các vấn đề trong nhiều vấn đề liên quan tới NCT và đặc biệt là nhu cầu CSSK. Đây là một đòi hỏi lớn về nguồn nhân lực trong việc hỗ trợ NCT - nhóm yếu thế trong XH hiện đại. Với chủ trơng này, các BV trong cả nớc, trong đó có BVLKTW - một trong những BV chuyên khoa hàng đầu về Lão khoa, tuyến cao nhất trong hệ thống thăm khám, điều trị và CSSK cho NCT tại Việt Nam cũng đang từng bớc xây dựng cho mình một mô hình CTXH phù hợp với hoạt động thực tiễn dựa trên chức năng, nhiệm vụ, vai trò chung của ngành CTXH. Tại đây các hoạt động CTXH cũng đã bắt đầu triển khai với sự tham gia từ nhiều nguồn nhân lực nh: NVYT tế kiêm nhiệm, tình nguyện viên.
nhằm hỗ trợ đội ngũ y, BS trong quá trình KCB, nhất là NBCT. Sự xuất hiện của CTXH trong y tế là phơng thức để họ tích cực tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe bằng chính khả năng của mình với những phơng pháp thích hợp. Tuy nhiên trên thực tế, những hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cho việc CSSK cũng nh quá trình KCB đợc thuận lợi nh t vấn, hớng dẫn, giáo dục cho NBCT, NNBN về điều trị bệnh, xử lý khủng hoảng. hay tham vấn tâm lý, liên kết các địch vụ xã hội cho NBCT là rất quan trọng nhng bị bỏ ngỏ hay có thực hiện nhng còn mang tính hình thức, rời rạc, cha có hệ thống rõ ràng.
Việc thiếu những thông tin cần thiết về dịch vụ KCB và nhu cầu đợc giải tỏa tâm lý không thoải mái vì nhiều lý do cha đợc đáp ứng trong khi điều trị tại BV khiến cho NBCT rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng, không biết tìm đến bộ phận NVYT nao dé doc hỗ trợ dẫn tới tình trạng bất hợp tác - ảnh hởng đến quá trình điều trị bệnh. Tất cả là những vấn đề trên đã gợi nên trong tôi ý tởng nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng CTXH cá nhân trong trợ giúp NCT bắt hợp tác trong điều tri tai BVLKTW hién nay”. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2. Trên thế giới Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dơng cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT đợc triển khai từ những năm 1980 trở lại đây, nh: “Chơng trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, XH của sự già hóa dân c° [27], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dơng tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX; “Sự phát triển chính sách địa phơng đối phó với sự già hóa dân c” [55] do Hội đồng châu Á - Thái Bình Dơng tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nớc, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra đợc xu hớng già hóa dân số và đề ra những định hớng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân só.
Nghiên cứu “Parriers to Health Care Access Among the Elderly and Who Prerceives Them” [56](Nhing rào can trong chăm sóc sức khỏe NCT và nhận thức về ching” cua Anntte L. Ives va John A. Két qua nghiên cứu cho thấy, các rào cản chủ yếu nh sự thiếu đáp ứng của BS đối với BN, không có bảo hiểm, các rào cản về tâm lý và thê chất khác. Nghiên cứu này không chỉ khái quát thực trạng CSSK đối với NCT, những rào cản tác động đến việc NCT nhận đợc sự quan tâm, chăm sóc riêng ở nớc Mỹ.
Theo tac gia M.Nizamuddin trong Report prepared for the Asian Population Conference - Pacific Fifth [57], Bangkok - Thai Lan (11- 14/12/2002), đã dé cập tới vấn đề GHDS và đề xuất những giải pháp cho tình hình GHDS tại khu vực châu Á - Thái Bình Dơng; Tuy nhiên việc thu xếp cùng chung sống với NCT đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn. Tại Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hóa[5§]đợc tổ chức tại Madrid, Tây Ban Nha (do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc triệu tập) năm 2002, trong đó điều 14 đã khẳng định vai trò của NCT trong đời sống, tầm quan trọng của cộng đồng, các cơ quan và tổ chức trong việc chăm sóc, hỗ trợ NCT; giúp NCT đợc tiếp cận các quyền bình đẳng trong CSSK, chăm sóc đời sống vật chất và tỉnh thần; nhắn mạnh tới sự cần thiết phải có chính sách về chăm sóc, điều trị và trợ giúp NCT về mọi mặt. Theo tác giả John J.Macionis trong tác phẩm Søciology (2004) [59], tai Chơng Lão hóa và ngời lớn tuổi cho biết kết quả nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Pháp (INED), thực hiện tại các nớc thành viên Châu âu (EU) bao gồm Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,. đã chỉ ra tình hình NCT ở phía nam EU thích sống với những ngời thân trong gia đình và các nớc phía bắc EU thì tình trạng NCT sống tại các trung tâm đỡng lão đang có xu hớng ngày càng tăng.
Từ kết quả nghiên cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều ngời trên 75 tuôi sống trong các cơ sở XH. Nh vay, có thé thay chủ đề NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT nhận đợc rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới. Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu các vấn đề về NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT cũng rất phong phú: từ góc độ gia đình, xã hội; từ góc độ văn hóa, y tế cho đến góc độ dân số, kinh tế, quản lý. Điều này cho thấy vai trò, vị thế của NCT tại các nớc trên thế giới rất đợc quan tâm, đề cao.
Tại Việt Nam Các cuộc điều tra nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những nội dung nh: quy mô dân số NCT: cơ cấu dân số NCT: tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống của NCT; CSSK NCT; phát huy vai trò của NCT. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng CSXH đối với NCT. Đáng chú ý là các công trình sau đây: Theo Bùi Thế Cờng trong cuốn sách “ 7rong miễn an sinh xã hội — những nghiên cứu về NCT Việt Nam” xuất bản năm 2005, nghiên cứu NCT trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, các nhà y khoa là những ngời đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về NCT. Năm 1970, thành lập chơng trình Nghiên cứu Y học Tuổi già và mời năm sau trở thành đơn vị nghiên cứu Y học Tuổi già của Bộ Y tế.
[15] Từ năm 2000 trở đi cũng có nhiều nghiên cứu, bài viết về NCT đợc tiến hành, có thể kế đến: Năm 2001 Tổ chức Hỗ trợ quốc tế NCT (HAI) đã có cuộc nghiên cứu về “Hoàn cảnh của NCT nghèo Việt Nam” tại 5 điểm là khu ô chuột TP Hồ Chí Minh, một làng ngời Hˆmong tại tỉnh Lào Cai, một làng ngời Kh?me ở tỉnh Sóc Trăng, một làng ngời Chăm ở tỉnh Ninh Thuận và một làng ngời Kinh ở tỉnh Phú Yên. Nghiên cứu trình bày về những thông tin về hoàn cảnh của NCT nghèo, về những đóng góp cha đợc biết đến của họ và những mối quan tâm cũng nh kinh nghiệm về nghèo khổ và bị phân biệt của họ. Vấn đề CSNCT tại các cơ sở CSNCT cũng đợc quan tâm: Đề tài “Tìm hiểu mức độ trầm cảm ở NCT sống trong trung tâm bảo trợ XH thành phố Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị Sánh (2014) tập trung nghiên cứu về mức độ trầm cảm và những yếu tố ảnh hong dén tram cảm ở NCT sống trong TTBTXH Đà Nẵng. Nghiên cứu có u điểm là đã chạm tới đợc những lý giải sâu sắc về nguyên nhân dẫn đến trầm cảm ở NCT.
Về phơng pháp nghiên cứu, chủ yếu sử dụng phơng pháp nghiên cứu tình huống và khảo sát ở một TTBTXH nên tính đại điện của mẫu cha cao. Cùng nghiên cứu về vấn đề CSNCT, nhng tác giả Nguyễn Xuân Thanh và Lindholm (2012) trong nghiên cứu “Has Vietnam health care funds for the poor policy favored the elderly poor?” chi tập trung vào quỹ CSSK NCT. Kết quả nghiên cứu của đề tài có đóng góp tích cực cho chính sách NCT trong việc đa ra những gợi ý chính sách về CSSK cho NCT. Đề tài “Nhu cầu quan hệ của NCT cô đơn, không nơi nơng tựa tại trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can thiép cua NVCTXH” cua Mai Thi Kim Thanh (2016) đã đề cập đến NCT cô đơn, không nơi nơng tựa tại TTBTXH IV, Ba Vì, Hà Nội đợc thu nhận và nuôi dong, sống cách biệt về địa lí với gia đình, ngời thân và thế giới bên ngoài.
Đề tài nghiên cứu đa ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp về vấn đề hạn chế các mối quan hệ ở NCT ở TTBTXH và đi vào đa ra hớng giải quyết. Tác giả Ngô Ngọc Mi và cộng sự (năm 2014) nghiên cứu về nhu cầu tỉnh thần của NCT với đề tài “Nhu cẩu tỉnh thần của NCT tại các cơ sở xã hội Thành phó Hồ Chí Minh”. Đề tài nêu nguyên nhân và thực trạng của vấn đề đời sống tỉnh thần của NCT ở Việt Nam hiện nay tại hai mái ấm chùa Lâm Quang và nhà dỡng lão Tân Thông Hội, bật lên đợc tâm lí, nhu cầu và sự đáp ứng từ XH ở NCT. Kết quả nghiên cứu cha có giá trị để khái quát, mở rộng ở các cơ sở khác, mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh vốn sôi động và đặc thù về vấn đề CSNCT.
CTXH trong lĩnh vực BV tuy mới và không nhiều ở Việt Nam, nỗi bật là một số nghiên cứu sau đây: Bai viét “Thuc trang trién khai hoat dong CTXH tai BV da khoa tinh Khánh Hoà năm 2014-2015” của tác giả Đoàn Thị Thuý Loan nhằm tìm hiểu thực trạng triển khai hoạt động phòng CTXH và các điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động CTXH tại BV.