CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 3 – 4 TUỔI 1. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm công tác xã hội Hiện nay, CTXH có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau. Theo Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011): CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống (dẫn theo Bùi Thị Xuân Mai (2010)). Trong khuôn khổ khóa luận này, tác giả khái niệm: CTXH là một nghề nghiệp giải quyết mối quan hệ giữa con người và con người, thúc đẩy thay đổi xã hội, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Khái niệm công tác xã hội cá nhân Công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) là hoạt động dịch vụ xã hội trực tiếp hướng đến các thân chủ do các nhân viên cộng đồng thực hiện. Các nhân viên này phải có các kỹ năng trong việc giải quyết các vấn đề về nguồn lực, các vấn đề về xã hội và xúc cảm.
Đây là một hoạt động mang tính chuyên ngành để qua đó các nhu cầu của thân chủ được đánh giá trong các bối cảnh xã hội và quan hệ xã hội của cá nhân đó. Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) cá nhân hướng đến nâng cao sức mạnh của các TC nhằm giải quyết các vấn đề và đối mặt các vấn đề một cách hiệu quả trong môi trường sống của 13 họ. Các dịch vụ thông qua NVXH bao gồm nhiều vấn đề từ việc trợ giúp về vật chất đến các vấn đề tham vấn phức hợp (Specht & Vickery, 1977) [29]. Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998) thì đưa ra khái niệm CTXHCN là “một phương pháp can thiệp (của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm.
Mục đích của CTXHCN là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình” [8]. Ở đây, chức năng xã hội được hiểu là hoạt động đối phó của con người và tương tác từ môi trường. Vì vậy, khi NVCTXH làm việc với TC luôn đặt TC trong mối quan hệ con người - môi trường, con người - hoàn cảnh để tìm hiểu, can thiệp và hỗ trợ. Như vậy, CTXHCN là một phương pháp can thiệp trong CTXH do NVCTXH thực hiện nhằm điều trị, phục hồi, củng cố và phát triển khả năng đối phó và giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả trong môi trường sống của họ.
Khái niệm trẻ em Theo Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em thì Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp quốc gia áp dụng có quy định tuổi thành niên sớm hơn. Theo Luật trẻ em năm 2016 của Việt Nam thì Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Và cũng theo bộ luật này qui định thì có 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: 1) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; 2) Trẻ em bị bỏ rơi; 3) Trẻ em không nơi nương tựa; 4) Trẻ em khuyết tật; 5) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; 6) Trẻ em vi phạm pháp luật; 7) Trẻ em nghiện ma túy; 8) Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 9) Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; 10) Trẻ em bị bóc lột; 11) Trẻ em bị xâm hại tình dục; 12) Trẻ em bị mua bán; 13) Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải Điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; 14) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc. Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tác giả nghiên cứu tập trung cho nhóm đối tượng trẻ em khuyết tật, cần thiết phối hợp với trung tâm giáo dục, độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi, đặc biệt tìm hiểu thực trạng CTXHCN với các trẻ CPTNN và các biện pháp can thiệp CTXHCN đối với nhóm trẻ này.
14 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Khái niệm trẻ chậm phát triển ngôn ngữ 1. Đặc điểm của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Chậm ngôn ngữ là một hiện tượng rối loạn ngôn ngữ ở trẻ nhỏ. Về vấn đề chậm ngôn ngữ ở trẻ có các định nghĩa khác nhau.
Theo cuốn sách “Tâm bệnh học trẻ em”, Tủ sách tâm lí, đưa ra định nghĩa: Chậm ngôn ngữ đôi khi còn được gọi là chậm ngôn ngữ đơn thuần, nghĩa là cái mà chúng ta giả định: sự chậm này là riêng biệt, không có chậm khôn. Rất nhiều mô tả chậm ngôn ngữ muốn chi tiết hóa các ngôn ngữ của những trẻ bị, đã nhấn mạnh các đơn giản hóa phát âm của chúng, đã nhắc lại cái hay ho của ngữ pháp kém và cấu trúc lời nói kém. Theo đó, chậm ngôn ngữ ở trẻ kết hợp theo các cách khác nhau: - Chậm cấu âm hoặc chậm phát âm, nhưng có thể rất ít hoặc không có. - Chậm ngữ pháp và ngôn ngữ, khá quan trọng.
- Những khó khăn có thể có về sau, đôi khi kết hợp với vấn đề kém các âm vị khi thử nghiệm nhắc lại các từ dài. - Hiếm gặp các rối loạn hiểu. Theo Tiến sĩ Trần Thị Thu Hà, Phó trưởng khoa phục hồi chức năng (Bệnh Viện Nhi Trung Ương): Chậm ngôn ngữ là một tình trạng rối loạn phát triển ngôn ngữ, không được gọi là một bệnh. Theo một số nghiên cứu cho rằng: Trẻ chậm ngôn ngữ là những trẻ chưa có khả năng trao đổi những điều thông thường khi đã 3 tuổi.
Chậm ngôn ngữ (nói lắp, nói từng từ một.) là biểu hiện một khiếm khuyết của giác quan trong trường hợp trẻ bị điếc hay trong hội chứng tự kỉ, chậm khôn. Chậm ngôn ngữ là một rối loạn trong việc diễn tả ngôn ngữ chỉ xuất hiện khi nói với người khác, là một rối loạn chức năng giao tiếp bằng lời, chậm ngôn ngữ là tình trạng phát âm không chuẩn một hay một nhóm âm vị. Theo Thạc sĩ Ngôn ngữ trị liệu Nguyễn Tường Anh, chậm phát triển ngôn ngữ được mô tả như sau: + Không diễn tả tư tưởng mạch lạc. 15 + Không ghi nhớ được chi tiết mà người khác nói.
+ Không nhớ để lặp lại một câu nói. + Không biết đặt câu hỏi. + Không biết trả lời các câu hỏi, không biết nhiều từ vựng. + Yếu khả năng hiểu nghĩa bóng, thành ngữ.
+ Không có khả năng kể một câu chuyện quen thuộc. Chậm ngôn ngữ đơn thuần khác với chậm ngôn ngữ của hội chứng tự kỷ, trẻ có thể hiểu được lời nói và một số mệnh lệnh đơn giản của người khác. Trẻ chậm ngôn ngữ có nhiều biểu hiện khác nhau, có trẻ chỉ phát ra những tiếng vô nghĩa, lặp đi lặp lại không dứt, có trẻ phát âm rõ ràng nhưng chỉ nói từ đơn, không có khả năng ghép hai từ hay nhiều hơn hai từ thành một câu. Một số ý kiến cho rằng chậm ngôn ngữ là sau 6 tháng trẻ chưa nói được từ đơn, sau 24 tháng trẻ chưa nói được câu 2 – 3 từ.
Trẻ có thể bắt đầu nói muộn hơn khi bắt đầu nói từng từ đơn lúc 4 – 5 tuổi. Những từ đầu tiên của trẻ nhiều khi không rõ, ngọng ngu. Như vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trẻ chậm ngôn ngữ, theo quan điểm chúng tôi thì trẻ chậm ngôn ngữ là những trẻ vẫn có khả năng giao tiếp nhưng khó khăn, chậm hơn so với những trẻ bình thường cùng trang lứa, trẻ không đạt được các ngưỡng phát triển ngôn ngữ thông thường và thường chậm hơn so với những trẻ bình thường cùng lứa tuổi ít nhất một năm. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào nhóm trẻ chậm phát triển ngôn ngữ đơn thuần.
Khó khăn của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Chậm ngôn ngữ ở trẻ là một trong những hiện tượng rối loạn về ngôn ngữ. Nếu không được phát hiện sớm và can thiệp sớm có thể để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng sau này đối với bản thân trẻ, với gia đình có trẻ chậm ngôn ngữ và cả cộng đồng xã hội. Nó là một hiện tượng ảnh hưởng trực tiếp lên tất cả các mặt sinh hoạt, tác động lên cá nhân trẻ, mất hứng thú học tập, dòng tư duy chậm chạp, kém hiệu quả, hành vi, 16 Thư viện ĐH Thăng Long thái độ không phù hợp với cả bản thân trẻ và các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân trẻ mà còn ảnh hưởng tới những người xung quanh, người thân của trẻ vì những cảm giác, tâm trạng buồn chán.
“Bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ của xã hội” (C. Giao tiếp là một hoạt động xã hội, giúp con người trở thành một thành viên tích cực của xã hội. Mà ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp. Chính vì thế, trẻ bị chậm ngôn ngữ kéo theo nguy cơ không hoà nhập được trong hoàn cảnh xã hội và không tạo lập được cho mình một mối quan hệ tích cực trong môi trường xung quanh.
Khi không hoà nhập được trong xã hội thì khả năng giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh bị hạn chế. Kéo theo sự chậm chạp trong nhận thức cũng như sự phát triển trí tuệ, ảnh hưởng tới quá trình học tập của trẻ sau này. Dù do nguyên nhân nào gây ra thì chậm ngôn ngữ cũng sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng. Chính vì thế, nó cần có các biện pháp tác động và được chữa trị kịp thời, vì càng để lâu càng khó chữa trị hơn.
Nếu để trẻ phát triển tự nhiên trong khi ngôn ngữ của trẻ có những khó khăn thì trẻ sẽ có khó khăn về mặt phát triển tâm lí: chậm nhận thức so với bạn bè cùng lứa tuổi, khó khăn trong diễn đạt ngôn ngữ, dẫn đến có tâm lí mặc cảm, tự ti, không phát triển được các mối quan hệ trong giao tiếp, bị bạn bè trêu chọc, đánh mắng, bị cô lập, ám sợ đám đông, trường học.