MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong cuộc đời của mỗi bậc cha mẹ, niềm vui và hạnh phúc lớn nhất là con cái của mình có thể lớn lên khỏe mạnh, phát triển đầy đủ về mặt tinh thần và thể chất. Tùy theo đặc điểm về thể trạng và các cột mốc phát triển riêng của từng trẻ ở những thời điểm khác nhau mà mỗi trẻ có thể có các biểu hiện như bộc lộ trí thông minh vượt trội, chiều cao, cân nặng, nói sớm, chậm nói so với trẻ cùng tuổi. Bên cạnh đó, cũng có những biểu hiện khác lại ẩn chứa các triệu chứng của một dạng khuyết tật mà thông thường gia đình hay nhà trường cũng như những người xung quanh không thể nhận ra và không có đủ chuyên môn để chẩn đoán.
Có thể thấy rằng trẻ khuyết tật là những trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc hoạt chức năng cơ thể hoạt động không bình thường dẫn đến gặp khó khăn nhất định và không thể theo được chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục – dạy học và những trang thiết bị trợ giúp cần thiết. Một trong những khiếm khuyết của trẻ khuyết tật ảnh hưởng đến bộ não và tư duy – đó là khuyết tật về ngôn ngữ. Trẻ khuyết tật ngôn ngữ thể hiện trong giao tiếp là những trẻ có sự phát triển lệch lạc về ngôn ngữ như: nói ngọng, nói lắp, nói không rõ, nói không được (câm không điếc) không kèm theo các dạng khó khăn như chậm phát triển trí tuệ, bại não… Tuy nhiên, nhóm trẻ chậm nói, hầu hết các phụ huynh cũng như đa số mọi người đều có những hiểu lầm rằng những trẻ này bị bệnh tự kỷ. Chậm nói ở trẻ là một trong những biểu hiện nhỏ trong tập các dấu hiệu của hội chứng tự kỷ.
Trẻ chậm nói sẽ khó hòa nhập với cuộc sống như bao đứa trẻ bình thường khác. Giống như rất nhiều các kỹ năng khác như đi đứng, phát triển ngôn ngữ là một kỹ năng tự nhiên và cần được phát triển tốt. Hiện nay, số lượng trẻ chậm nói ngày một tăng nhanh (trong đó có cả nhóm trẻ chậm nói tự kỷ và một tỷ lệ rất nhỏ trẻ chậm nói thông thường), đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Những thống kê sơ bộ trên thế giới cho thấy trẻ chậm nói do các yếu tố về hội chứng tự kỷ cho thấy có khoảng 72 triệu người tự kỷ có các biểu hiện chậm nói cần được hỗ trợ về âm ngữ trị liệu, gần bằng 1% dân số thế giới và tương đương với dân số Việt 13 Nam năm 1995. Tuy nhiên, tình trạng này ở Việt Nam chưa được đánh giá đúng mức tầm quan trọng cũng như những nghiên cứu về các phương pháp hỗ trợ cho trẻ chậm nói.
Bên cạnh những khó khăn mang tính chủ quan, có rất nhiều những nguyên nhân khách quan khác xuất phát từ môi trường sống và cách giáo dục của cha mẹ. Việc thiếu giáo viên chuyên môn hỗ trợ cho trẻ chậm nói hòa nhập tại các trường mầm non là một trong những nguyên nhân khách quan đó. Tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt đã xuất hiện thêm mảng dịch vụ giáo viên hỗ trợ trẻ chậm nói tại các trường mầm non nhưng những dịch vụ này còn khá eo hẹp. Để hỗ trợ trẻ chậm nói học hòa nhập thành công thì ngoài những kiến thức chuyên môn, giáo viên còn cần trang bị thêm nhiều kỹ năng khác để vừa hỗ trợ trẻ học tập vừa không làm ảnh hưởng tới công việc của các giáo viên trong trường.
Về mặt lý luận, việc nghiên cứu trẻ chậm nói đa số được nghiên cứu nhiều dưới góc độ y học, tâm thần học, xã hội học, tâm lý học…mà có rất ít đề tài nghiên cứu về trẻ chậm nói trên lĩnh vực Công tác xã hội, cụ thể là việc ứng dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân trong việc can thiệp, giúp đỡ trẻ chậm nói. Ở nước ta, việc chẩn đoán là do các bác sĩ chuyên khoa về tâm thần hoặc tâm lý trẻ em. Việc can thiệp cho trẻ có thể có sự góp mặt của bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, giáo viên chuyên biệt và Nhân viên Công tác xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, việc can thiệp và chẩn đoán trẻ chậm nói chỉ được chú trọng trên phương diện tâm lý học và y học, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về việc hỗ trợ trẻ chậm nói trong vấn đề giao tiếp và ngôn ngữ dưới góc độ xã hội học và công tác xã hội.
Xuất phát từ những lí do khách quan trên, việc lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân hỗ trợ trẻ chậm nói lứa tuổi từ 3 - 5 (Nghiên cứu tại viện nghiên cứu và ứng ứng dụng công nghệ giáo dục ATEC)” để làm rõ về lý luận và thực tiễn của vấn đề được nêu, góp phần hỗ trợ cho trẻ chậm nói nói chung và trẻ chậm nói nói riêng, cải thiện giao tiếp giúp ích trong học tập và cuộc sống. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu 14 Thư viện ĐH Thăng Long Tìm hiểu tổng quan về vấn đề trẻ khuyết tật nói chung và trẻ chậm nói nói riêng và và đưa ra thực trạng khó khăn về giao tiếp và tự phục vụ của trẻ chậm nói để từ đó ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ can thiệp cho trẻ chậm nói. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận về vấn đề trẻ khuyết tật nói chung và trẻ chậm nói nói riêng lứa tuổi từ 3 – 5.
- Phân tích những khó khăn về giao tiếp, tự phục vụ và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề chậm nói của trẻ lứa tuổi từ 3 – 5. - Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân hỗ trợ trẻ chậm nói lứa tuổi từ 3 đến 5. Tổng quan nghiên cứu Các nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, xu hướng trẻ chậm nói có chiều hướng gia tăng mạnh, đặc biệt các thành phố lớn. Tại các bệnh viện Nhi, số trẻ chậm nói, mắc bệnh tự kỷ hoặc tăng động giảm chú ý phải điều trị bán trú thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải, cao gấp đôi so với quy định.
Ở các bệnh viện tai mũi họng, lượng bệnh nhi chậm nói là khoảng 100 trẻ/tháng, trong đó, 30% trường hợp bị chậm nói do yếu tố tâm lý, đây là một con số được đánh giá là khá cao so với dân số ở nước ta. Khi trẻ chậm nói, các bậc cha mẹ thường chủ quan, không đưa con đến các cơ sở y học - tâm lý để thăm khám và điều trị, mà tự ứng phó bằng những phương thức cá nhân như mời chuyên gia về dạy nói cho con và trông cậy toàn bộ vào các chuyên gia, nhiều bố mẹ tin vào những ý nghĩ cầu nguyện hoặc tín ngưỡng, lựa chọn niềm tin với tôn giáo cũng là phương thức ứng phó được các bậc phụ huynh lựa chọn. Tuy nhiên cũng có một số phụ huynh lại có những suy nghĩ chủ quan, hay đưa ra những dự đoán, quy gán bệnh cho con dựa trên báo mạng hay những lời truyền miệng của các ông bà, phụ huynh khác mà không thông qua kiểm tra bởi các chuyên gia. Nhiều bố mẹ cũng tăng cường nhận thức, tìm kiếm thông tin mặc dù phương thức này làm tăng thêm thông tin, giúp bố mẹ nâng cao kiến thức về y học, nhưng bố mẹ lại thường rất hiển nhiên tập trung xoay quanh chẩn đoán về bệnh của trẻ.
15 Trong một khảo sát gần đây về tình hình người khuyết tật ở Việt Nam (2006), Viện nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) đã nhấn mạnh vào quan điểm và thái độ của cộng đồng về khuyết tật. Nghiên cứu cho thấy người khuyết tật bị kì thị và phải đối mặt với sự phân biệt đối xử phổ biến. Điều này khiến cho sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động kinh tế và xã hội của người khuyết tật trở nên khó khăn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 80% số người trả lời khảo sát ở Thái Bình và Đồng Nai, 60% ở Quảng Nam – Đà Nẵng cho rằng người khuyết tật “khác biệt”.
Điều này sẽ không phải là điều đáng lo quá nếu như quan điểm về sự “khác biệt” này không ngăn cản người khuyết tật đến trường, lao động và sử dụng các dịch vụ xã hội. Theo quan niệm cổ điển, phân biệt đối xử bị coi là “một trở ngại cho các hỗ trợ xã hội, bảo vệ quyền của người khuyết tật cũng như tạo điều kiện để phát triển toàn diện cho người khuyết tật”. Vì vậy, rất cần có các chiến dịch nhằm thay đổi thái độ, khuyến khích sự hòa nhập toàn diện vào trong các văn bản pháp luật. Chiến đấu với sự kì thị và phân biệt đối xử dành cho người khuyết tật gần đây đã trở thành như một vấn đề chính của chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế.
Thay đổi những nhận thức và thái độ cố hữu trong xã hội là một điều không hề dễ dàng, tuy nhiên, thành công của những nhà ủng hộ cho quyền của người khuyết tật tại nhiều quốc gia khác đã chứng tỏ rằng nhiệm vụ này có thể thực hiện được. Quốc hội Việt Nam gần đây đã thông qua luật quốc gia toàn diện đầu tiên đảm bảo các quyền của người khuyết tật. Luật mới tạo điều kiện bình đẳng cho người khuyết tật tham gia vào các hoạt động xã hội trong các vấn đề nhà ở, tiếp cận dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm, học nghề, các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí, giao thông, các khu công cộng và công nghệ thông tin. Luật Người khuyết tật, được thảo ra với sự giúp đỡ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống của người khuyết tật.
Ở Hà Nội, có một tổ chức địa phương mang tên Hội Người khuyết tật Hà Nội [1]. Một đứa trẻ chậm nói có xu hướng phải cố gắng để thể hiện nhu cầu của mình và mong muốn được mọi người biết đến thông qua điệu bộ, cử chỉ, hành vi hoặc khóc. Chậm nói khiến bố mẹ chịu đựng sự ngăn cách của đứa trẻ và cảm thấy bất lực khi cố gắng xác định những mong muốn của trẻ. Chậm nói ở trẻ được chia thành hai loại: chậm nói đơn thuần và chậm nói tự kỷ.
Hiện tượng chậm nói đơn thuần là do rối loạn trong 16 Thư viện ĐH Thăng Long phát triển ngôn ngữ. Còn trẻ tự kỷ thường bị chậm nói, không hiểu ngôn ngữ, sống với một thế giới riêng, tách biệt ở thế giới xung quanh.