PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới(WHO), ước tính năm 2012 có khoảng 1,67 triệu ca mắc mới, chiếm 25% tổng số các loại ung thư [55]. Ung thư vú cũng đứng thứ 5 trong tổng số các loại ung thư gây tử vong (522.000 ca tử vong) và là loại ung thư gây tử vong hàng đầu ở nữ giới tại các nước đang phát triển (324.000 ca tử vong, chiếm 15,4%) [43]. Tại Việt Nam, theo số liệu ghi nhận ung thư năm 2010, ung thư vú đứng hàng đầu ở nữ giới với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi trung bình trong cả nước là 29,9/100.
Ước tính năm 2020, con số này là 38,1/100. Ung thư vú đang ngày càng phát triển, nó không những trở thành mối đe dọa cho sức khỏe của phụ nữ về thể chất và tinh thần mà còn mang tới gánh nặng về kinh tế xã hội. Mặc dù nền Y học đã có nhiều tiến bộ trong việc chẩn đoán sớm và điều trị giúp cho bệnh nhân ung thư vú kéo dài cuộc sống, nhưng những người sống sót với ung thư thường phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khó khăn. Bên cạnh những đau đớn về thể chất và tác dụng không mong muốn do các phương pháp điều trị gây ra thì rất nhiều phụ nữ đã từng phải trải qua nhiều cảm xúc lo lắng, sợ hãi khi biết tin mình mắc bệnh ung thư vú khiến cho cuộc sống xã hội của họ bị thay đổi.
Cùng với các phương pháp điều trị triệt để cho bệnh nhân ung thư vú thì việc chăm sóc sức khỏe tinh thần và xã hội là rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng sống và điều trị cho họ. Muốn chăm sóc bệnh nhân ung thư vú tốt hơn thì việc tìm hiểu tâm lý xã hội và nhu cần được hỗ trợ tâm lý xã hội của họ là rất quan trọng. Tuy nhiên, ở Việt Nam, những nghiên cứu này còn rất hạn chế. Công tác xã hội (CTXH) là ngành khoa học còn mới ở Việt Nam song lại rất quan trọng và cần thiết đối với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, 1 trong đó có ngành y tế.
CTXH trong bệnh viện có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với những người xung quanh và với nhân viên y tế. Tại các nước phát triển CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng đối với chăm sóc sức khỏe người dân đặc biệt trong quá trình phục hồi chức năng, chăm sóc tâm lý xã hội cho các bệnh nhân, người bị khủng hoảng, người nghiện ma túy, người hành nghề mại dâm, người mắc HIV/AIDS, bệnh nhân ung thư… CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, người bệnh với người xung quanh. Do đó người làm CTXH sẽ có nhiệm vụ hỗ trợ tâm lý - xã hội cho bệnh nhân, là cầu nối giữa bệnh nhân với các dịch vụ công, đồng thời cũng là cầu nối giữa các nhà hảo tâm với các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, một số bệnh viện đã triển khai hoạt động xã hội để giúp đỡ người bệnh.
Hầu hết các bệnh viện trong cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên thường xuyên trong tình trạng quá tải. Nhân viên y tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của bệnh nhân như hướng dẫn giải thích về quy trình khám chữa bệnh, tư vấn về phác đồ điều trị, cách phòng ngừa bệnh tật cho đến hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho người bệnh, khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh, cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ… Thực trạng này đang dẫn đến không ít những phiền hà cho người bệnh như: Sự thiếu hụt thông tin khi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh, sự không hài lòng của bệnh nhân đối với các cơ sở y tế…. Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa ung thư hạng I của thành phố Hà Nội. Bệnh viện tiếp nhận điều trị bệnh nhân ung thư trên địa bàn thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận từ miền Trung trở ra.
Hiện nay, bệnh viện chưa thành lập phòng Công tác xã hội vậy nên những sự giúp đỡ dành cho người bệnh chủ yếu đến từ bác sĩ và điều dưỡng chăm sóc hàng 2 ngày. Mặc dù là bệnh viện trực thuộc Sở Y tế song số lượng bệnh nhân đến khám tại đây cũng rất đông khiến các bác sĩ cũng không thể dành nhiều thời gian để tư vấn một cách cặn kẽ về bệnh tình cũng như các vấn đề tâm lý xã hội mà bệnh nhân phải trải qua. Vì những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ nhu cầu tâm lý - xã hội cho bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú (Nghiên cứu trường hợp tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội)” với mục đích chỉ ra thực trạng hỗ trợ của nhân viên CTXH cho bệnh nhân ung thư vú, qua đó giúp cho những nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực Y tế hiểu rõ hơn nhu cầu được hỗ trợ tâm lý xã hội của những bệnh nhân sau khi được chẩn đoán ung thư vú và đưa ra giải pháp thích hợp trợ giúp người bệnh cũng như gián tiếp thúc đẩy việc điều trị hiệu quả hơn ở họ. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực trạng trợ giúp tâm lý - xã hội của bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú và các yếu tố ảnh hưởng đến sự trợ giúp, qua đó đề xuất biện pháp nâng cao các hoạt động Công tác xã hội tại Bệnh viện 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan tình hình nghiên cứu lí luận và thực tiễn về việc hỗ trợ nhu cầu tâm lý - xã hội cho bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú.
Xác định cơ sở lí luận nghiên cứu về việc hỗ trợ nhu cầu tâm lý - xã hội cho bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú. Làm rõ thực trạng nhu cầu cần hỗ trợ tâm lý - xã hội của bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội. Xác định vai trò hỗ trợ tâm lý – xã hội của nhân viên CTXH và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ cho bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội. Tổng quan nghiên cứu về việc hỗ trợ tâm lý xã hội cho bệnh nhân sau chẩn đoán ung thư vú 3.
Các nghiên cứu ở nước ngoài 3. Những rối loạn tâm lý ở bệnh nhân ung thư vú Đối với bệnh nhân nói chung, bệnh tật làm thay đổi tâm lý người bệnh, có khi chỉ làm thay đổi nhẹ về cảm xúc, song cũng có khi gây biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc toàn bộ nhân cách người bệnh. Bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý người bệnh, như đặc điểm các giai đoạn phát triển và những dấu hiệu đặc trưng của bệnh, đặc điểm nhân cách, các yếu tố nhiễm trùng, nhiễm độc, các yếu tố môi trường…Các yếu tố này dẫn đến những biến đổi đặc biệt như: thay đổi hứng thú, tư duy; thay đổi tri giác đối với thế giới bên ngoài và bản thân; thay đổi sự chọn lọc quan hệ với người xung quanh; tập trung chú ý vào bệnh tật; giảm sút ý chí, có khuynh hướng tự động ám thị; hồi tưởng nhiều về quá khứ, hay xúc động, thay đổi nét mặt, giọng nói…Các dấu hiệu biến đổi tập hợp thành hội chứng tâm lý không đặc hiệu của bệnh thực thể [25].
Năm 2013, Zainal và các các cộng sự đã có một nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm của bệnh nhân ung thư vú tổng hợp từ 32 nghiên cứu mô tả cắt ngang trên thế giới. Theo kết quả tổng hợp này, tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân ung thư vú của các nước trung bình là 22% (phạm vi từ 1%-56%), trong đó báo cáo của các nước phương Tây chỉ ra tỷ lệ trầm cảm trong khoảng từ 1%-56% trong khi nghiên cứu của các nước châu Á chỉ ra tỷ lệ trầm cảm từ 12,5%-31%. Sử dụng thang tự đánh giá trầm cảm của Beck thì tỷ lệ trầm cảm trung bình được tính là 22% (phạm vi từ 17%-48%). Sử dụng thang đánh giá lo âu trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS thì tỷ lệ trầm cảm trung bình tính được là 10% (phạm vi 1-22%).
Nghiên cứu tổng hợp này cũng đã chỉ ra sự liên quan giữa trầm cảm với một số biến nhân khẩu học, xã hội, các yếu tố liên quan đến bệnh ung thư, các yếu tố liên quan đến điều trị bệnh, các yếu tố về tâm ý, lối sống sự hỗ trợ xã hội và chất lượng cuộc sống. Nghiên 4 cứu cũng đã khẳng định việc phát hiện ra các yếu tố liên quan đến trầm cảm trên bệnh nhân ung thư vú là rất quan trọng trong thực hành lâm sàng [53]. Sự khác biệt về tỷ lệ rối loạn lo âu phụ thuộc vào loại rối loạn lo âu được đo. Nghiên cứu của Dansta và Buzlus sử dụng thang đo HADS trên những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn đầu (giai đoạn 1 và giai đoạn 2) ở Thổ Nhĩ Kỳ (2011) đã báo cáo là có 35,1% phụ nữ mắc ung thư vú có rối loạn lo âu và 17,1% phụ nữ mắc ung thư vú có rối loạn trầm cảm.
Yếu tố liên quan rất quan trọng đến lo âu đó là nhóm bệnh nhân có thu nhập thấp. Trong khi đó, yếu tố có tiền sử gia đình mắc ung thư vú và yếu tố phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú là những yếu tố làm tăng tỷ lệ trầm cảm [52]. Theo nghiên cứu của Burqess thì có vẻ như tỷ lệ lo âu, trầm cảm ở bệnh nhân ung thư vú có xu hướng giảm từ năm đầu tiên chẩn đoán đến năm thứ 5 sau chẩn đoán ung thư từ 48% xuống 15% [37] .