Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một vấn đề y tế và xã hội thu hút sự quan tâm trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2022), tỷ lệ mắc RLPTK trong dân số trẻ em đã gia tăng từ mức 1/150 vào năm 2000 lên 1/88 năm 2012, 1/54 năm 2016 và đạt 1/44 vào năm 2018. Tại Việt Nam, số liệu của Tổng cục Thống kê (2018) cho biết có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên (chiếm 6,5% dân số), trong đó có gần 1 triệu trẻ rối loạn tự kỷ, ước tính chiếm 1% số trẻ sinh ra. Gia đình của trẻ có RLPTK gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, khám và điều trị, giáo dục, giao tiếp xã hội, gánh nặng kinh tế và các vấn đề tâm lý như thiếu kiến thức, kỹ năng chăm sóc và thiếu môi trường học tập phù hợp (Nguyễn Thị Mai Lan, 2013; Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2015).

Về mặt chính sách, Quyết định số 1929/QĐ-TTg ngày 25/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, trẻ em tự kỷ và người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2021 – 2030" đã nhấn mạnh hai mục tiêu:

  1. Huy động sự tham gia của xã hội, gia đình và cộng đồng trong việc tăng cường trợ giúp vật chất, tinh thần, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, trẻ tự kỷ, người rối nhiễu tâm trí hòa nhập cộng đồng.
  2. Thực hiện sàng lọc, phát hiện và hỗ trợ can thiệp, dự phòng cho người rối nhiễu tâm trí, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội.

Mặc dù chính sách đã định hình, các nghiên cứu trong nước về dịch vụ công tác xã hội (CTXH) dành cho trẻ RLPTK và gia đình vẫn còn thiếu hụt. Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận các dịch vụ đơn lẻ như tham vấn tâm lý, đào tạo kỹ năng cho nhân viên hoặc khảo sát thực trạng hoạt động của cơ sở can thiệp. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở việc thiếu một khảo sát toàn diện về loại hình dịch vụ, quy trình cung cấp, chi phí, nguồn nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai dịch vụ CTXH. Đề tài "Dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có rối loạn phổ tự kỷ" được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng dịch vụ CTXH đối với trẻ có RLPTK và gia đình trẻ, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ CTXH, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp cải thiện dịch vụ CTXH trong hỗ trợ gia đình và trẻ có RLPTK.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ có RLPTK, gia đình, các chương trình, chính sách và dịch vụ CTXH dành cho đối tượng này.
  2. Hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận với các khái niệm công cụ liên quan tới dịch vụ CTXH dành cho trẻ có RLPTK và gia đình.
  3. Thu thập dữ liệu, mô tả và phân tích thực trạng thực hiện dịch vụ CTXH dành cho trẻ có RLPTK và gia đình.
  4. Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ CTXH và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK đang được thực hiện như thế nào?
  2. Những yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK được xác định là gì?
  3. Để cải thiện các dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK cần phải có những giải pháp hỗ trợ nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Các dịch vụ CTXH đang được cung cấp tại các cơ sở chăm sóc trẻ có RLPTK chưa được chuẩn hóa với quy định cụ thể về loại hình dịch vụ, quy trình và đảm bảo chất lượng.
  2. Một số yếu tố bao gồm: yếu tố liên quan đến đội ngũ cung cấp dịch vụ, đối tượng sử dụng dịch vụ (gia đình và trẻ có RLPTK), yếu tố cộng đồng và cơ sở cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ CTXH.
  3. Để cải thiện dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK, cần thiết phải có giải pháp hỗ trợ đội ngũ cung cấp dịch vụ, đối tượng thụ hưởng dịch vụ, cơ sở cung cấp dịch vụ và nâng cao nhận thức của cộng đồng.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có RLPTK.
  • Khách thể nghiên cứu: Gia đình trẻ có RLPTK; nhân viên cung cấp dịch vụ tại các cơ sở can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập; cán bộ lãnh đạo và quản lý tại các trung tâm giáo dục, trung tâm can thiệp sớm, trung tâm phục hồi chức năng (PHCN) và trung tâm bảo trợ xã hội (BTXH).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chính sách dịch vụ, quy trình cung cấp, loại hình, cách thức cung cấp, đội ngũ cán bộ và các yếu tố tác động đến dịch vụ CTXH.
  • Phạm vi không gian: Các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại 5 tỉnh, thành phố: Yên Bái, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội và Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2019 đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 nhóm chủ đề chính:

Nhóm chủ đề tổng quan Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và phát hiện chính được trích dẫn
Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và khó khăn của trẻ RLPTK Bleuler (1950[1911]); Hadeel F và cộng sự (2010); Tonge B và cộng sự (2011); Lai và cộng sự (2013); Lord và cộng sự (2006, 2018); Nguyễn Thị Hương Giang (2012); Đinh Văn Uy và cộng sự (2019); Phạm Trung Kiên và cộng sự (2013); Lê Thị Vui và cộng sự (2017); WHO (2017); Trần Văn Công và Nguyễn Thị Hoàng Yến (2017); Kern và cộng sự (2017); K.O’Brien và cộng sự (2020); Kervin và cộng sự (2021); Nguyễn Thị Thanh Mai (2019); Leeuw và cộng sự (2020); Vũ Thị Thu Hiền và cộng sự (2017); Karpur và cộng sự (2019); NSCH (2016). - RLPTK là nhóm tình trạng thần kinh phát triển không đồng nhất, đặc trưng bởi 3 nhóm biểu hiện: thiếu tương tác xã hội, thiếu giao tiếp ngôn ngữ/phi ngôn ngữ, hành vi lặp lại.
- Tỷ lệ trẻ trai mắc cao hơn trẻ gái; tỷ lệ trong dân số thế giới khoảng 1% (Lai và cộng sự, 2013), tại Việt Nam ước tính 0,5% - 1% (Trần Văn Công & Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2017) hoặc 0,73% (Lê Thị Vui và cộng sự, 2017).
- Khó khăn: chẩn đoán muộn do thiếu công cụ chuẩn hóa văn hóa; can thiệp sai phương pháp (tâm linh, dùng thuốc nguy hại); khoảng 70% trẻ có bệnh lý cơ thể/tâm thần kết hợp; nhu cầu chăm sóc sức khỏe không được đáp ứng cao gấp 4 lần trẻ khuyết tật khác.
Phương pháp can thiệp sớm và phục hồi chức năng Howlin và cộng sự (2009); Yang (2019); Tachibana (2017); Green và cộng sự (2010); Tarver và cộng sự (2019); Dawson và cộng sự (2012); Jones và cộng sự (2017); Overley và cộng sự (2018); Thompson và cộng sự (2013); Palmer và cộng sự (2021); Bộ Y tế (2008); Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2019). - Ba nhóm can thiệp sớm: tập trung vào hành vi, tương tác giao tiếp - xã hội và can thiệp phát triển.
- Vai trò trung tâm của cha mẹ trong việc thực hiện can thiệp tại gia đình; can thiệp dựa vào cộng đồng và tương tác xã hội giúp cải thiện não bộ và hành vi.
- Liệu pháp âm nhạc, trị liệu trò chơi lấy trẻ và gia đình làm trung tâm.
- Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm (2016–2019) phát hiện 6 gen mới mang biến đổi ở trẻ tự kỷ tại Việt Nam.
Gia đình trẻ RLPTK: Nhận thức, thách thức và ứng phó Crowell và cộng sự (2019); Vũ Song Hà và cộng sự (2014); Ying và cộng sự (2012, 2014); Hoàng Dương và cộng sự (2017); L. Mercer và cộng sự (2006); Lakhan và cộng sự (2010); Persha và cộng sự (2007); Vũ Thị Thu Hiền và cộng sự (2017); Wilson và cộng sự (2021); Chen và cộng sự (2013); Singh (2016); Lam và cộng sự (2010); Jabery và cộng sự (2014); Chu và cộng sự (2020); Serrata (2012); Hall và cộng sự (2011); Nealy và cộng sự (2012); Stewart và cộng sự (2020); Weiss và cộng sự (2014); Begum và cộng sự (2019); Bonis và cộng sự (2015); Pearson và cộng sự (2020); Vohra và cộng sự (2013); Nguyễn Trung Hải và cộng sự (2020); Liao và cộng sự (2020); Saccà và cộng sự (2019); Harper và cộng sự (2013); Frenn và cộng sự (2011); Hartley và cộng sự (2017); Papadopoulos (2021); Ludlow và cộng sự (2011); Torbet và cộng sự (2019); Reddy và cộng sự (2019); Vernhet và cộng sự (2019); Higgins và cộng sự (2005); Lai và cộng sự (2015); Shepherd và cộng sự (2017); Benson (2014); Cappe và cộng sự (2011); Carter và cộng sự (2009); Seymour và cộng sự (2013); Brown và cộng sự (2010); Nefdt và cộng sự (2010); Tonge và cộng sự (2006); Blauth và cộng sự (2017); Pepperell và cộng sự (2016); Searing và cộng sự (2015); Benson và cộng sự (2012); McKenzie và cộng sự (2019). - Nhận thức: Nhiều gia đình thiếu hiểu biết khoa học; quan niệm sai lệch do yếu tố tâm linh hoặc nghiệp chướng (Lakhan, 2010; Vũ Song Hà, 2014); tiếp nhận thông tin không chính thống qua internet.
- Thách thức: Căng thẳng tâm lý, rối loạn sau sang chấn (PTSD), trầm cảm, khủng hoảng gia đình; xung đột và giảm chất lượng hôn nhân; gánh nặng tài chính do chi phí can thiệp tự chi trả hoàn toàn tại Việt Nam.
- Kỳ thị và tự kỳ thị: Cảm giác mặc cảm, cô lập xã hội.
- Chiến lược ứng phó: Nhu cầu nhận các chương trình hỗ trợ tâm lý, đào tạo kỹ năng nuôi dạy qua video/DVD, tham vấn gia đình và hỗ trợ từ bạn đời.
Dịch vụ CTXH và nhân viên CTXH trong lĩnh vực RLPTK Bishop và cộng sự (2018); Jolynn L. (2016); Karen (2016); McCafferty và cộng sự (2020); Cục Bảo trợ xã hội, ĐH Sư phạm Hà Nội và ĐH Lao động Xã hội (2017); Dymond và cộng sự (2007); Hoagwood và cộng sự (2001); Duncan và cộng sự (2010); Symon (2005); Burkhardt (2001); Nguyễn Hiệp Thương (2016); Trần Văn Công và cộng sự (2017). - Nghề CTXH chưa đóng vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực RLPTK so với y tế và giáo dục đặc biệt.
- Hoạt động CTXH bao gồm: quản lý trường hợp, đào tạo kỹ năng xã hội, tham vấn gia đình, can thiệp sớm tại cộng đồng.
- Tại Việt Nam, giáo trình của Cục BTXH (2017) mới dừng ở kiến thức cơ bản; các nghiên cứu của Nguyễn Hiệp Thương (2016) hay Trần Văn Công (2017) chỉ tập trung vào kỹ năng tham vấn hoặc giáo dục hòa nhập mà chưa đánh giá hệ thống dịch vụ CTXH tổng thể.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Luận án giải quyết khoảng trống về sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống hóa và đánh giá thực nghiệm toàn diện về dịch vụ CTXH dành cho trẻ RLPTK và gia đình tại Việt Nam. Đề tài đi sâu vào việc khảo sát đồng thời cả hai phía: người cung cấp dịch vụ (nhà quản lý, nhân viên) và người sử dụng dịch vụ (gia đình trẻ), từ đó xác định các rào cản về cơ chế, tài chính, quy trình và xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng làm căn cứ cho việc can thiệp liên ngành.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm công cụ và khung lý thuyết

Luận án xác lập hệ thống khái niệm công cụ làm nền tảng phân tích:

  1. Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK): Tiếp cận theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc và khung chẩn đoán DSM-5 (Trần Văn Công, 2014) gồm 5 nhóm tiêu chuẩn:

    • Nhóm A: Suy yếu kéo dài trong giao tiếp xã hội và tương tác xã hội.
    • Nhóm B: Các mẫu hành vi, sở thích hoặc hoạt động lặp lại và bị giới hạn.
    • Nhóm C: Triệu chứng xuất hiện trong các giai đoạn phát triển sớm.
    • Nhóm D: Triệu chứng gây suy yếu đáng kể về mặt lâm sàng trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc chức năng hiện tại.
    • Nhóm E: Rối loạn không được giải thích tốt hơn bởi khuyết tật trí tuệ hoặc trễ phát triển tổng thể.
    • Khái niệm thao tác của luận án: RLPTK là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường phát hiện trong 3 năm đầu đời, là rối loạn thần kinh ảnh hưởng chức năng não bộ, biểu hiện qua khiếm khuyết tương tác xã hội, giao tiếp và hành vi hạn hẹp, lặp lại.
  2. Trẻ em và Trẻ có RLPTK: Dựa trên Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (1990) và Luật Trẻ em Việt Nam năm 2016 (Điều 1), xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Trẻ có RLPTK là người dưới 16 tuổi mắc dạng khuyết tật phát triển nêu trên.

  3. Gia đình và Gia đình trẻ có RLPTK: Dựa trên Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Mục 1, Điều 3), Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 1997) và Bách khoa toàn thư Việt Nam (2022). Gia đình trẻ RLPTK được định nghĩa là tập hợp người được pháp luật thừa nhận là gia đình và hiện đang chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ có RLPTK.

  4. Công tác xã hội (CTXH): Kế thừa định nghĩa chuẩn quốc tế của IFSW và IASSW (2014), xem CTXH là nghề nghiệp mang tính thực hành và ngành khoa học thúc đẩy sự thay đổi, phát triển xã hội, gắn kết xã hội và tăng cường năng lực con người; đồng thời tham chiếu các quan điểm tại Việt Nam (Nguyễn Thị Oanh, 2004; Bùi Thị Xuân Mai, 2010; Nguyễn Hồi Loan, 2014; Đề án 32/2010/QĐ-TTg; Thông tư 01/2017/TT-BLĐTBXH).

  5. Dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK: Dựa trên các lý thuyết về dịch vụ (Philip Kotler, 2010; Trần Hậu và Đoàn Minh Tuấn, 2012) và dịch vụ CTXH (Đỗ Thị Ngọc Phương, 2012; Bùi Thị Xuân Mai, 2014; Nguyễn Thị Thái Lan, 2016; Nguyễn Hải Hữu, 2017). Luận án xây dựng khái niệm: Là các hoạt động phòng ngừa, can thiệp, phục hồi, phát triển cung cấp cho gia đình, trẻ có RLPTK và cộng đồng; được thực hiện bởi người làm CTXH sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn, phối hợp liên ngành với y tế, tâm lý, giáo dục nhằm hỗ trợ người bị ảnh hưởng vượt qua khó khăn, hòa nhập xã hội và đảm bảo an sinh xã hội.

  6. Chất lượng dịch vụ và Sự hài lòng: Vận dụng lý thuyết khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985), Asubonteng và cộng sự (1996), Lewis và Booms (1983), Philip Kotler và cộng sự (2000, 2005), Eshghi và cộng sự (2008), Zeithaml và Bitner (2003). Đánh giá chất lượng dịch vụ CTXH thông qua mức độ hài lòng của phụ huynh, đo lường bằng sự so sánh giữa kết quả thay đổi tình trạng của trẻ trên thực tế với kỳ vọng ban đầu của gia đình.

  7. Nhân viên CTXH và Vai trò nghề nghiệp: Theo định nghĩa của IASW/UNICEF (2016) và DuBois & Miley (2019). Luận án áp dụng khung 12 vai trò của Feyerico (1973): người vận động nguồn lực, người kết nối, người biện hộ, nhà hoạt động xã hội, nhà giáo dục, nhà tư vấn, nhà tham vấn, người trợ giúp xây dựng/thực hiện kế hoạch cộng đồng, và người chăm sóc/trợ giúp.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Thiết kế nghiên cứu: Tiếp cận phương pháp hỗn hợp (kết hợp định lượng và định tính).
  • Thu thập dữ liệu:
    • Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 1929/QĐ-TTg, Đề án 32/2010/QĐ-TTg, Thông tư 01/2017/TT-BLĐTBXH, Luật Trẻ em 2016), tài liệu y khoa và giáo trình chuyên ngành.
    • Điều tra khảo sát bảng hỏi định lượng: Khảo sát trên mẫu khách thể gồm phụ huynh có con RLPTK, nhân viên trực tiếp cung cấp dịch vụ và cán bộ quản lý cơ sở.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp và phỏng vấn sâu: Đánh giá chi tiết các rào cản và thực tiễn cung cấp dịch vụ tại các đơn vị.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng các kiểm định thống kê để phân tích tương quan giữa các hoạt động trong quy trình cung cấp dịch vụ và tương quan giữa mức độ thực hiện dịch vụ với các nhóm yếu tố tác động.
  • Địa bàn nghiên cứu: Khảo sát tại 5 tỉnh, thành phố đại diện: Yên Bái, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội và Nghệ An, bao gồm cả các cơ sở công lập (Trung tâm Bảo trợ xã hội, Trung tâm Phục hồi chức năng) và các cơ sở ngoài công lập (Trung tâm can thiệp sớm, cơ sở giáo dục hòa nhập tư nhân).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành 5 nhóm vấn đề:

  • Thực trạng dịch tễ và các đặc điểm lâm sàng của trẻ RLPTK (tỷ lệ trẻ nam/nữ, sự gia tăng tỷ lệ mắc theo CDC và WHO, các vấn đề bệnh lý kết hợp).
  • Các khó khăn trong phát hiện, chẩn đoán sớm và nguy cơ từ các liệu pháp can thiệp không có căn cứ khoa học.
  • Các mô hình can thiệp sớm (tập trung vào hành vi, tương tác xã hội, can thiệp lấy trẻ và gia đình làm trung tâm).
  • Tác động tâm lý và kinh tế đối với gia đình trẻ RLPTK (căng thẳng, trầm cảm, suy giảm chức năng hôn nhân, hiện tượng kỳ thị và tự kỳ thị).
  • Vị trí của CTXH trong hỗ trợ trẻ RLPTK và các khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết và phương pháp luận:

  • Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ: RLPTK (theo DSM-5), trẻ em có RLPTK (dưới 16 tuổi), gia đình trẻ có RLPTK, dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ RLPTK.
  • Phân tích các thành tố của dịch vụ CTXH, khung đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên mức độ hài lòng của khách hàng và 12 vai trò của nhân viên CTXH theo Feyerico (1973).
  • Trình bày thiết kế nghiên cứu, quy trình chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu định lượng, định tính và các phương pháp xử lý số liệu trên địa bàn 5 tỉnh, thành phố (Yên Bái, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Nghệ An) giai đoạn 2019 – 2022.

Chương 3: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có rối loạn phổ tự kỷ

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm về hoạt động cung ứng dịch vụ:

  • Mô tả đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế, tâm lý của nhóm gia đình và trẻ có RLPTK tham gia nghiên cứu.
  • Khảo sát thực trạng các nhóm dịch vụ CTXH đang được triển khai tại các cơ sở công lập và tư nhân: loại hình dịch vụ, quy trình cung cấp dịch vụ, cách thức tiếp cận và mức chi phí dịch vụ do gia đình chi trả.
  • Kết quả kiểm định thống kê: Phân tích tương quan giữa các hoạt động trong quy trình cung cấp dịch vụ (tiếp nhận, đánh giá, lập kế hoạch, thực hiện, lượng giá, kết thúc/chuyển giao); tương quan giữa mức độ thực hiện dịch vụ với các biến số về cơ sở vật chất, năng lực nhân sự và tính chất cơ sở (công lập so với tư nhân).
  • Đánh giá của gia đình và cán bộ quản lý về hiệu quả và mức độ đáp ứng của các dịch vụ CTXH hiện hành.

Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có rối loạn phổ tự kỷ

Chương 4 phân tích các nhóm yếu tố tác động và đưa ra các đề xuất giải pháp:

  • Phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai và sử dụng dịch vụ CTXH:
    1. Yếu tố đội ngũ cung cấp dịch vụ: Trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên biệt về RLPTK, mức độ được đào tạo bài bản về CTXH, đạo đức và động lực nghề nghiệp.
    2. Yếu tố đối tượng sử dụng dịch vụ: Nhận thức của cha mẹ về RLPTK, khả năng tài chính, thời gian và sự sẵn sàng hợp tác trong can thiệp.
    3. Yếu tố cơ sở cung cấp dịch vụ: Nguồn lực cơ sở vật chất, cơ chế vận hành, sự liên kết liên ngành giữa CTXH với y tế và giáo dục đặc biệt.
    4. Yếu tố cộng đồng và chính sách: Khung pháp lý, mức độ kỳ thị xã hội, sự sẵn có của các mạng lưới hỗ trợ xã hội.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp: Hoàn thiện cơ chế chính sách dịch vụ an sinh cho trẻ RLPTK; chuẩn hóa chương trình đào tạo nhân viên CTXH chuyên trách; nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm giảm kỳ thị; xây dựng mô hình cung cấp dịch vụ CTXH liên ngành tại các cơ sở can thiệp và giáo dục hòa nhập.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ về dịch vụ CTXH dành cho gia đình và trẻ có RLPTK phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
  • Hệ thống hóa các thành tố cấu thành dịch vụ CTXH, tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên sự hài lòng của gia đình và khung 12 vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực can thiệp RLPTK.
  • Bổ sung tài liệu lý luận chuyên ngành về CTXH lâm sàng và CTXH trường học đối với nhóm trẻ khuyết tật phát triển.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm diện rộng từ 5 tỉnh/thành phố (Yên Bái, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Nghệ An) về thực trạng các loại hình dịch vụ, quy trình can thiệp, mức phí và những khó khăn từ cả hai phía cung cấp và tiếp nhận dịch vụ.
  • Phân tích thực chứng về sự chênh lệch chất lượng giữa cơ sở công lập và tư nhân, chỉ ra thực trạng thiếu vắng bảo hiểm y tế chi trả cho can thiệp RLPTK tại Việt Nam.
  • Cung cấp căn cứ thực tiễn để các cơ sở can thiệp sớm và bảo trợ xã hội tái cấu trúc quy trình cung ứng dịch vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa.

Đóng góp về đào tạo nguồn nhân lực

  • Làm căn cứ khoa học cho các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo cử nhân CTXH; xác định rõ các khối kiến thức và kỹ năng can thiệp chuyên biệt cần trang bị khi làm việc với trẻ RLPTK và gia đình.

Đóng góp về chính sách và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất bổ sung căn cứ khoa học giúp cơ quan quản lý nhà nước triển khai hiệu quả Quyết định số 1929/QĐ-TTg.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
    1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành danh mục và tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ CTXH cho trẻ khuyết tật phát triển.
    2. Xây dựng chính sách bảo hiểm y tế/trợ cấp xã hội hỗ trợ chi phí can thiệp cho trẻ RLPTK nhằm giảm áp lực tài chính cho gia đình.
    3. Chuẩn hóa chức danh nghề nghiệp và cấp chứng chỉ hành nghề cho nhân viên CTXH trong cơ sở giáo dục và y tế.
    4. Phát triển mô hình phối hợp liên ngành (Y tế - Tâm lý - Giáo dục đặc biệt - Công tác xã hội) lấy gia đình làm trung tâm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi khảo sát tập trung tại 5 tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ (Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Yên Bái, Nghệ An), chưa bao quát toàn bộ các vùng địa lý như Tây Nguyên hay Nam Bộ.
  • Dữ liệu nghiên cứu tập trung tại các trung tâm can thiệp sớm, cơ sở bảo trợ xã hội và giáo dục hòa nhập, chưa khảo sát sâu tại các bệnh viện tâm thần tuyến cơ sở hoặc nhóm trẻ RLPTK không được tiếp cận bất kỳ dịch vụ nào tại vùng sâu, vùng xa.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát trên quy mô toàn quốc để đánh giá tính đại diện theo các vùng sinh thái xã hội khác nhau.
  • Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá hiệu quả can thiệp của các mô hình quản lý trường hợp cụ thể do nhân viên CTXH trực tiếp điều phối.
  • Nghiên cứu phát triển bộ công cụ đánh giá nhu cầu gia đình và tiêu chuẩn lượng giá chất lượng dịch vụ CTXH chuyên sâu cho lĩnh vực RLPTK.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo khung lý luận, hệ thống tổng quan tài liệu trong nước/quốc tế và thiết kế phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong lĩnh vực CTXH và Giáo dục đặc biệt.
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo CTXH: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các học phần CTXH với người khuyết tật, CTXH với trẻ em và gia đình, CTXH trong trường học và bệnh viện.
  • Nhà hoạch định chính sách: Tham khảo số liệu thực chứng và các đề xuất để xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định 1929/QĐ-TTg và các chính sách an sinh xã hội liên quan đến trẻ tự kỷ.
  • Cán bộ quản lý và nhân viên tại các trung tâm can thiệp sớm, phục hồi chức năng: Ứng dụng quy trình cung cấp dịch vụ chuẩn hóa và khung 12 vai trò của nhân viên CTXH để nâng cao chất lượng hỗ trợ trẻ và gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc và số lượng trẻ rối loạn phổ tự kỷ được văn bản ghi nhận là bao nhiêu?

Theo báo cáo của CDC Hoa Kỳ (2022), tỷ lệ mắc RLPTK tăng từ 1/150 (năm 2000) lên 1/88 (năm 2012), 1/54 (năm 2016) và 1/44 (năm 2018). Trên phạm vi toàn cầu, WHO (2017) ước tính tỷ lệ là 1/160 trẻ. Tại Việt Nam, Tổng cục Thống kê (2018) công bố có gần 1 triệu trẻ rối loạn tự kỷ (ước tính chiếm 1% số trẻ sinh ra) trong tổng số 6,2 triệu người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên. Tỷ lệ phân bố theo giới tính ghi nhận tỷ số trung bình khoảng 1 trẻ gái trên 4 trẻ trai (hoặc từ 3,6:1 đến 4,6:1 theo Blumberg và cộng sự).

2. Quyết định số 1929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định những mục tiêu chính nào?

Quyết định số 1929/QĐ-TTg phê duyệt ngày 25/11/2020 đặt ra hai mục tiêu trọng tâm giai đoạn 2021 – 2030:

  • Huy động sự tham gia của xã hội, gia đình và cộng đồng trong việc tăng cường trợ giúp vật chất, tinh thần, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, trẻ tự kỷ, người rối nhiễu tâm trí hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống.
  • Thực hiện sàng lọc, phát hiện và hỗ trợ can thiệp, dự phòng cho người rối nhiễu tâm trí, đặc biệt là trẻ em tâm thần nặng, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội.

3. Năm nhóm tiêu chuẩn chẩn đoán RLPTK theo DSM-5 được nêu trong luận án là gì?

Theo DSM-5 (Trần Văn Công, 2014), chẩn đoán RLPTK bao gồm 5 nhóm tiêu chuẩn:

  • Nhóm A: Suy yếu kéo dài trong giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều khung cảnh.
  • Nhóm B: Các mẫu hành vi, sở thích hoặc hoạt động lặp lại và bị giới hạn.
  • Nhóm C: Các triệu chứng phải xuất hiện trong các giai đoạn phát triển sớm.
  • Nhóm D: Các triệu chứng gây suy yếu đáng kể về mặt lâm sàng trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc chức năng hiện tại.
  • Nhóm E: Rối loạn không thể được giải thích tốt hơn bằng khuyết tật trí tuệ hoặc trễ phát triển tổng thể.

4. Luận án định nghĩa dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có RLPTK như thế nào?

Dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có RLPTK là: Các hoạt động phòng ngừa, can thiệp, phục hồi, phát triển cung cấp cho gia đình, trẻ có RLPTK và cộng đồng; được thực hiện bởi những người làm CTXH thông qua việc sử dụng kiến thức, kỹ năng của bản thân, không tách rời các dịch vụ y tế, tâm lý, giáo dục nhằm hỗ trợ nhóm người bị ảnh hưởng giải quyết khó khăn, hòa nhập xã hội và góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

5. Khung 12 vai trò của nhân viên công tác xã hội theo Feyerico (1973) được trích dẫn gồm những vai trò nào?

Luận án dẫn dụng 12 vai trò chủ đạo của nhân viên CTXH theo Feyerico (1973) gồm:

  1. Người vận động nguồn lực
  2. Người kết nối
  3. Người biện hộ
  4. Nhà hoạt động xã hội
  5. Nhà giáo dục
  6. Nhà tư vấn
  7. Nhà tham vấn
  8. Người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng
  9. Người chăm sóc, người trợ giúp

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Dịch vụ công tác xã hội dành cho gia đình và trẻ có rối loạn phổ tự kỷ" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phương pháp luận và các khái niệm công cụ về dịch vụ CTXH hỗ trợ nhóm trẻ khuyết tật phát triển và thân nhân tại Việt Nam. Thông qua khảo sát thực nghiệm tại 5 tỉnh, thành phố giai đoạn 2019 – 2022, tác giả đã phản ánh toàn diện thực trạng cung ứng dịch vụ, những rào cản về cơ chế tài chính tự chi trả, cũng như phân tích 4 nhóm yếu tố tác động từ đội ngũ cán bộ, gia đình, cơ sở can thiệp đến cộng đồng. Công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, chuẩn hóa đào tạo nhân lực và phát triển mô hình can thiệp liên ngành, đóng góp các căn cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và thực hành CTXH chuyên nghiệp.