Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau liên quan chăm sóc cho người cao tuổi. Trong phạm vi của luận văn, tác giả trình bày và phân tích một số công trình nghiên cứu tiêu biểu quốc tế và trong nước nói về các vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Các nghiên cứu chăm sóc người cao tuổi ngoài nước Theo nghiên cứu của Hiệp Hội Các Trường Cao Đẳng (TCSW) Hiệp Hội công tác xã hội chăm sóc người cao tuổi tại Châu Âu, dự báo năm 2050 ở Khối Liên minh Châu Âu (EU), dân số 65+ sẽ chiếm gần 1/3 tổng dân số khối này.
Vào năm 2060 ở EU, số người 65+ có ít nhất 1 thương tật (trong các sinh hoạt hàng ngày) là 44,4 triệu, Người cao tuổi được chăm sóc tại các nhà dưỡng lão là 8,3 triệu, Người cao tuổi được chăm sóc chính thức tại nhà là 13,9 triệu, người cao tuổi được chăm sóc không chính thức hoặc không được chăm sóc là 22,3 triệu (European Commission, 2012). Khi các mạng lưới an toàn suy yếu, các quốc gia Châu Âu đang tìm kiếm những cách thức mới giảm chi phí chăm sóc sức khỏe và hưu trí trong khi nhu cầu dịch vụ ngày càng gia tăng. Với những đặc trưng phát triển kinh tế xã hội như hiện nay thì số người cao tuổi không sống với con cái đang tăng do tuổi thọ đang tăng tại hầu hết các quốc gia, dẫn đến số người cao tuổi có nhu cầu được trợ giúp ngày càng tăng. Trên toàn thế giới, 70% dân số người cao tuổi sống tại các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình.
Với điều kiện về sức khỏe của người cao tuổi, chăm sóc lâu dài là một nhu cầu phổ biến. Trong nghiên cứu này đề cập đến mạng lưới CTXH trong chăm sóc người cao tuổi tại những nhà chăm sóc (Viện dưỡng lão) tại địa phương, cùng kết nối với người cao tuổi đang sống tại gia đình, tạo cơ hội cho người đang sống cùng con hoặc riêng lẽ tại những căn hộ gần khu vực nhà chăm sóc, người cao tuổi được trợ giúp khẩn cấp khi có nhu cầu, đặc biệt những hỗ trợ này chi phí do ngân sách nhà nước phụ trách, nên người cao tuổi trong khu vực được hưởng lợi từ các dịch vụ tại nhà chăm sóc, trong đó xen 11 lẫn dịch vụ chăm sóc tại nhà cho người cao tuổi khi khả năng tự chăm sóc của họ không được đáp ứng. Dẫn chứng các hoạt động CTXH trong chăm sóc được kết nối chặt chẽ với dịch vụ chăm sóc y tế nên người cao tuổi không còn cảm thấy hạn chế hoặc khó khăn khi cần tiếp cận dịch vụ chăm sóc, tuy nhiên trong nghiên cứu cũng chỉ ra người cao tuổi có rất nhiều hạn chế, trong đó sức khỏe tâm thần là một trong những hạn chế bên cạnh sức khỏe vận động. Sa sút trí tuệ, suy giảm trí nhớ tuổi già, kèm với một số bệnh liên quan đến biến chứng, việc chăm sóc người cao tuổi luôn gặp khó khăn và phải đương đầu với mô hình bệnh tật biến đổi kèm với biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu “Chăm sóc người cao tuổi tại các nước Đông Nam Á và Trung Quốc” của Tổ Chức Help Age International (2013) đã đưa ra những bằng chứng cụ thể về chính sách, dịch vụ cho người cao tuổi tại Đông Nam Á và Trung Quốc, trong đó trên 80% người cao tuổi được chăm sóc tại gia đình, dịch vụ được quan tâm hỗ trợ là người giúp việc tại gia đình, điều dưỡng tại gia đình cho trên 15% người cao tuổi trong gia đình có mức sống cao, mức sống trung bình chỉ ở 2% vì khi người cao tuổi không còn tự chăm sóc cho bản thân được nữa, những người thân trong gia đình phải tìm kiếm sự chăm sóc thay thế. Đối với người cao tuổi sống trong những gia đình có mức sống thấp phải phụ thuộc hoàn toàn vào con cái, mặc dù có một số quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc có dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi tại các địa phương hay khu vực đông dân cư, tuy nhiên dịch vụ miễn phí này vẫn không thu hút được nhiều gia đình hay người cao tuổi tham gia, vì người cao tuổi còn khả năng vận động thì không hạn chế việc thuyên chuyển đi lại, còn đối với người cao tuổi đã hạn chế vận động thì không thể nào thuyên chuyển đi về trong ngày như người bình thường được, dịch vụ mở ra nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi không có điều kiện chăm sóc tại gia đình, dịch vụ nhà cộng đồng cho người cao tuổi được mở ra tại những khu dân cư lao động có thu nhập thấp, người cao tuổi được đưa đến sống tại nhà cộng đồng được chăm sóc, trợ giúp, chức năng như nhà dưỡng lão, kinh phí do ngân sách nhà nước chi trả, dịch vụ này hầu như rất ít người cao tuổi và gia đình chấp nhận, chỉ khi trong gia đình không còn người thân thích, người cao tuổi không còn khả năng chăm sóc thì họ mới đến nhà cộng đồng, trong đó các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội được nhân viên CTXH đảm nhận với vai trò kết nối nguồn 12 lực cộng đồng, tuy sự thường xuyên vẫn là nhân viên CTXH. Kết quả của nghiên cứu cho rằng: Phong tục, văn hóa rất khó thay đổi cách nhìn và cách thực hiện cho người cao tuổi vì sự ràng buộc, lệ thuộc vào chuẩn mực sống theo đạo lý, tôn giáo, nên hiện nay chăm sóc người cao tuổi vẫn là sự thách đố trong việc tìm giải pháp phù hợp để người cao tuổi nhận được sự quan tâm chăm sóc từ xã hội, từ các chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi. Hiện nay, Nhật Bản là nước có tỷ lệ người cao tuổi cao nhất thế giới, nước Nhật dân số có 127 triệu người thì người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên 35,57 triệu, chiếm 28,1% dân số.
Nhóm người cao tuổi này hiện nay có 12,4% đang là lực lượng lao động. Nước Nhật cho người dân làm việc đến 70 tuổi, Người cao tuổi từ 70 tuổi trở lên 21,18 triệu người, bằng 20,7% dân số. Dự báo đến 2050 tỷ lệ Người cao tuổi của nước này chiếm 36%, tuổi thọ của người cao tuổi ở Nhật ngày càng cao, cụ ông là 81 tuổi, cụ bà là 88 tuổi; nước Nhật có 69,785 người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên, trong đó 88% là cụ Bà. Chính vì thế, nước Nhật đã trở thành một xã hội dân số già nhất thế giới; mặc dù là nước có nền kinh tế phát triển nhất nhì thế giới nhưng các nhà hoạch định chính sách cũng hết sức lo ngại về an sinh xã hội đối với người cao tuổi.
Tác giả Trần Quang Bảo (2019) “Tài liệu tập huấn công tác người cao tuổi” của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Bình Dương. Nghiên cứu “Thực hành chăm sóc người cao tuổi ở Nhật Bản: Các vấn đề chính, quan điểm chính sách và chương trình; Bài học gì có thể học được từ kinh nghiệm của người Nhật?” của tác giả Pushkar Singh Raikhola & Yasuhiro Kuroki. Nghiên cứu về các vấn đề, chính sách và chương trình chính liên quan đến thực hành chăm sóc người già và người cao tuổi của Nhật Bản dựa trên các bằng chứng đã được công bố cho đến nay. Người Nhật tận hưởng cuộc sống lâu nhất và khỏe mạnh nhất thế giới.
Tuy nhiên, tình huống may rủi này cũng đang gây lo ngại. Tốc độ già hóa dân số ở Nhật Bản lớn hơn nhiều so với các nước phát triển khác. Ở Nhật Bản, gia đình hạt nhân, lao động nữ, tỷ lệ sinh giảm và các mô hình thay đổi về vai trò trong gia đình đã kết hợp lại khiến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc đó một cách không chính thức trở nên khó khăn hơn hoặc ít hơn và nhu cầu chăm sóc của cộng đồng và thể chế ngày càng gia tăng. Quá trình già hóa của 13 Nhật Bản không chỉ làm tăng tỷ lệ người già trong dân số mà còn kéo theo sự thay đổi cơ bản trong gia đình và cộng đồng.
Do đó, các hệ thống khác nhau bị ảnh hưởng bởi những thay đổi này, chẳng hạn như lương hưu, chăm sóc y tế và chăm sóc dài hạn, cần phải được xây dựng lại. Với những tiến bộ trong công nghệ y tế và những cải thiện về sức khỏe cộng đồng và dinh dưỡng, tuổi thọ trung bình của người dân Nhật Bản đã tăng lên rõ rệt. Khi dân số già tăng lên, số lượng người già và ốm liệt giường cần được chăm sóc đang gia tăng nhanh chóng. Theo dự báo được đưa ra vào giữa thế kỷ 21, cứ ba người Nhật sẽ có một người từ 65 tuổi trở lên, vì vậy số lượng người cao tuổi cần được chăm sóc chỉ có thể tiếp tục tăng lên làm trầm trọng thêm vấn đề chăm sóc của xã hội là thực tế là khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc, trong khi đó Người cao tuổi sống gia đình đầy đủ con cháu đang giảm xuống, một phần là do quá trình chuyển đổi đang diễn ra từ mô hình gia đình mở rộng sang hạt nhân.
Ở Nhật Bản, hệ thống hỗ trợ gia đình truyền thống đang được đảm bảo trước sự thay đổi về nhân khẩu học, xã hội và kinh tế. Mức sinh thấp trong nhiều thập kỷ, người già có ít con cái trưởng thành để phụng dưỡng và nhiều trẻ em trong số này đã phải rời xa nơi ở của gia đình. Tỷ lệ kết hôn đã giảm mạnh và phụ nữ đang tham gia lực lượng lao động với số lượng ngày càng tăng. Phụ nữ trung niên, những người chăm sóc truyền thống, thường có ít thời gian hơn so với trước đây để chăm sóc các thành viên cao tuổi trong gia đình.
Việc tăng cường tiếp xúc với phương Tây cũng có thể đưa ra những ý tưởng mới về hôn nhân, gia đình và những ý tưởng chủ nghĩa cá nhân xung đột với ý thức trách nhiệm truyền thống của Người cao tuổi Ogawa và Retherford (1993). Mặc dù, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện một loạt các chương trình và biện pháp chính sách với hy vọng thúc đẩy mức sinh từ đầu những năm 1990 nhưng tác động của mức sinh cho đến nay là không đáng kể. Để đối phó với những khó khăn ghê gớm do tốc độ già hóa dân số nhanh chóng, Nhật Bản lựa chọn chính sách thay thế.