ĐẶT VẤN ĐỀ Trên thế giới, tình trạng sức khỏe thể chất của thầy tu ở một số nƣớc đƣợc quan tâm khá chu đáo nhƣ ở Anh và các nƣớc Bắc Âu. Theo hệ thống y tế Beveridge (hệ thống y tế chi trả theo thu nhập thuế) họ đƣợc chọn Bác sỹ khám chữa bệnh và tƣ vấn, về bệnh tật đƣợc điều trị kịp thời và phòng bệnh [15]. Ở Nhật Bản, chính phủ bắt buộc 100% nhà sƣ phải lấy vợ trƣớc khi trú trì một ngôi chùa để sinh con và duy trì dân số, nhà sƣ ở Nhật Bản vẫn có vợ và sinh hoạt nhƣ một ngƣời dân bình thƣờng [18]. Ở Thái Lan và vùng Tây Tạng ngƣời xuất gia đƣợc ăn mặn, trong các ngày đại lễ ở Thái Lan thƣờng tổ chức tiệt mặn với các món ăn nhƣ lợn quay, thịt bò, trứng gà…[3].Theo số liệu thu thập (năm 2011) tại bệnh viện cho các nhà sƣ ở Thái Lan cho thấy có tới 45% chƣ Tăng/ni Thái Lan bị thừa cân béo phì, tiểu đƣờng, cao huyết áp [7].
Tại Ấn Độ, phong tục tập quán ở đây là ăn bốc, nhà sƣ thƣờng bốc thức ăn bằng tay để ăn (không dùng thìa, đũa), đây cũng là một trong những nguy cơ nhiễm bệnh làm ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời xuất gia [13]. Ở Việt Nam, quy luật tu hành tại nhà chùa có nhiều đặc điểm khác biệt với quần thể nói chung nhƣ ăn chay, không đƣợc phép kết hôn/lập gia đình, lối sống tĩnh tại ít vận động, tụng kinh, ngồi thiền, nghiêm ngặt về lời ăn tiếng nói. Đây có thể là những yếu tố tác động đến tình hình sức khỏe thể chất của ngƣời xuất gia. Số lƣợng ngƣời xuất gia nhập viện trƣớc đây thƣờng rất ít vì họ mặc cảm việc đi khám chữa bệnh, chỉ uống các loại thuốc nam, lá rễ cây bình thƣờng rồi tụng kinh niệm phật cho bệnh mau khỏi.
Khánh Hòa là một trong những địa phƣơng có nhiều chùa, toàn tỉnh có hơn 2000 chƣ tăng/ni cƣ trú trên 505 ngôi chùa, 5 trƣờng sơ cấp và 1 trƣờng trung cấp phật học. Số lƣợng ngƣời xuất gia ngày càng tăng, kết hợp với một số đặc điểm khắc khe của nhà chùa thì việc ốm đau/bệnh tật của ngƣời xuất gia là điều không thể tránh khỏi. Chăm sóc nâng cao sức khỏe thể chất cho ngƣời xuất gia là một vấn đề cần đƣợc quan tâm. Hiện nay chƣa có số liệu thống kê đầy đủ về tình trạng bệnh tật/ốm đau ở nhóm đối tƣợng ngƣời xuất gia.
Theo số liệu thống kê y tế (năm 2011) tại một số bệnh viện ở thị xã Ninh Hòa có 45 chƣ tăng và 34 chƣ ni khám và điều trị tại các bệnh viện, trong 2 đó có 2 nhà sƣ tử vong. Các bệnh thƣờng gặp ở các nhà sƣ nhƣ viêm nhiễm kéo dài, suy nhƣợc cơ thể, thiếu máu, bệnh tim mạch, đái tháo đƣờng… Xem xét bối cảnh chung về tình trạng ốm đau của ngƣời xuất gia, nhận thấy đây là lĩnh vực đáng quan tâm trong thời gian tới. Do vậy, “Mô tả tình trạng sức khỏe thể chất của người xuất gia và các yếu tố liên quan ở thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2013” đƣợc tiến hành nghiên cứu nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe thể chất của ngƣời xuất gia tại thị xã Ninh Hòa. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả tình trạng sức khỏe thể chất (BMI và tình trạng bệnh tật trong 4 tuần trƣớc điều tra) của ngƣời xuất gia ở thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Mô tả một số hành vi không có lợi cho sức khỏe thể chất của ngƣời xuất gia ở thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2013. Xác định các yếu tố liên quan đến sức khỏe thể chất của ngƣời xuất gia tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh khánh Hòa năm 2013. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Thông tin về đạo Phật và ngƣời xuất gia trên phạm vi Thế giới và Việt nam. Phật giáo hay giáo lý của Phật đà là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới so với các tôn giáo khác. Sự phát triển của đạo Phật có thể đƣợc chia làm bốn giai đoạn, giữa thế kỉ thứ 6 đến giữa thế kỉ thứ 5 trƣớc Công Nguyên, giai đoạn nguyên thủy, do đức Phật giáo hóa và các đệ tử của Phật truyền bá. Kể từ thế kỉ thứ 4 trƣớc Công Nguyên, giai đoạn bắt đầu phân hóa ra nhiều trƣờng phái qua các lần kết tập về giáo pháp.
Sau thế kỉ thứ 13 Phật giáo đƣợc xem là bị tiêu diệt tại Ấn Độ nơi sản sinh đạo Phật. Từ thế kỉ thứ 13, đạo Phật đƣợc truyền đi các nƣớc khác ngoài Ấn Độ. Ngày nay phái Tiểu thừa với quan điểm của Thƣợng tọa bộ đƣợc truyền bá rộng rãi tại Sri Lanka, Nepal, Bhutan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Lào. Phái Đại thừa đƣợc truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Singapore và Việt nam.
Giáo pháp Kim cƣơng thừa cũng đƣợc xếp vào Đại thừa phát triển mạnh tại Tây Tạng, Mông Cổ [20]. Chƣa có một con số tín đồ Phật giáo chính xác, ngƣời ta ƣớc lƣợng có khoảng 400-500 triệu ngƣời đã quy y tam bảo, số ngƣời theo đạo Phật không làm lễ quy y nhƣng trong nhà vẫn thờ Phật, Bồ tát. kết hợp thờ chung với Thần Thánh của các tín ngƣỡng truyền thống khác nhƣ thờ Thần Tài, Ông Địa, Thiên Hậu, Ngọc Hoàng Thƣợng Đế, hay chỉ đơn thuần là thờ cúng tổ tiên nhƣng khi làm tang lễ, đám giỗ, lễ cầu siêu thì dựa vào kinh Phật thì con số còn cao hơn nhiều, có thể lên tới 1,2 đến 1,6 tỷ ngƣời. Điều này đặc biệt phổ biến tại các nƣớc Đông Á và chịu ảnh hƣởng văn hóa Trung Hoa khi mà Phật giáo đƣợc dung nạp và trở thành một phần trong tín ngƣỡng dân gian, ngƣời dân ở các nƣớc này coi việc thờ Phật là lẽ tự nhiên nhƣ việc thờ cúng tổ tiên, dù nhiều ngƣời chƣa từng đọc qua kinh sách hay trải qua các nghi lễ Phật pháp [15,19].1 Phái Tiểu thừa Gồm các nƣớc: Sri Lanka, Nepal, Bhutan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia và Lào.
Ngƣời xuất gia ở Phái Tiểu thừa có đặc điểm là ăn tất cả thức ăn từ Phật tử cúng dƣờng kể cả thịt, cá, trứng… mà không phân biệt là chay hay mặn. Tuy nhiên, họ chỉ ăn mỗi ngày duy nhất một bữa, nếu quá Ngọ (12 giờ trƣa) thì không ăn nữa mà phải đợi đến ngày hôm sau mới ăn. Phật giáo tại Tích Lan (Sri Lanka) 5 Ngƣời ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan (Sri Lanka) khoảng năm 250 trƣớc Công Nguyên, do Ma-hi-đà và Tăng-già-mật-đa hai ngƣời con của A-dục vƣơng truyền từ Ấn Độ. Qua thế kỉ thứ 16, ngƣời Bồ Đào Nha vào Tích Lan và tìm cách du nhập đạo Thiên chúa.
Đến thế kỉ thứ 17 ngƣời Hà Lan lại ủng hộ việc khôi phục đạo Phật tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Điện và Thái Lan cũng có ảnh hƣởng đáng kể lên nền đạo Phật tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm 1948, đạo Phật luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngƣỡng và nền văn hóa của xứ này. Phật giáo tại Thái Lan Ngƣời ta biết rất ít việc đạo Phật đƣợc truyền bá đến Thái Lan.
Kết quả khảo cổ cho thấy Phật giáo đến Thái Lan khoảng thế kỉ thứ 6 từ Miến Điện. Giữa thế kỉ thứ 11 và 14, ảnh hƣởng của Ấn Độ giáo bắt đầu phát triển. Trong thế kỉ thứ 19, nhà vua Ma-ha Mông-cút lên ngôi, bản thân ông cũng đã là một tăng sĩ, ông là ngƣời đặt nền tảng cho nền Phật giáo cận đại. Ông thành lập Pháp tông, cơ sở dựa vào Luật tạng và ngày nay có nhiều tín đồ nhất tại Thái Lan.
Vua Chulalangkorn trị vì từ 1868 đến 1910 cho xuất bản các tạng kinh quan trọng của đạo Phật, có thể gọi là đầy đủ nhất từ xƣa đến nay. Ngày nay 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật. Phật giáo tại Miến Điện (Myanma) Truyền thuyết cho rằng Miến Điện đã tiếp cận với đạo Phật trong thời A-dục vƣơng, thế kỉ thứ 3 trƣớc Công Nguyên. Theo một thuyết khác, đạo Phật đã đến Miến Điện trong thời đức Phật còn tại thế.
Kể từ thế kỉ thứ 5, Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của Thƣợng tọa bộ và Đại thừa phái. Thế kỷ 11 nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận Thƣợng tọa bộ và từ đó Đại thừa biến mất tại đây. Sự có mặt của ngƣời Anh trong thế kỉ thứ 19 làm xáo trộn Phật giáo Miến Điện, mãi đến lúc giành lại độc lập năm 1947 Miến Điện mới trở lại cơ chế cũ, ngày nay có 90% ngƣời dân Miến Điện là phật tử, đạo Phật đƣợc xem là Quốc giáo. Phật giáo tại Campuchia Ngƣời ta cho rằng Phật giáo du nhập vào Campuchia trong thế kỉ thứ 3 sau Công Nguyên.
Theo các cao tăng Trung Quốc thì Thƣợng tọa bộ đƣợc phát triển trong lúc Đại thừa bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pali ghi năm 1309 chứng minh rằng Thƣợng tọa bộ đƣợc hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối thế kỉ thứ 19, Phật giáo truyền từ Thái Lan mới bắt đầu có ảnh hƣởng. 6 Phật giáo tại Lào Hầu hết nhân dân Lào theo đạo Phật.
Phật Giáo trở thành Quốc giáo của họ. Ở Lào, Phật giáo giữ vị trí Quốc giáo từ nhiều thế kỷ nay. Phật giáo có ảnh hƣởng đến việc hình thành tính cách dân tộc, nhân sinh của ngƣời Lào. Theo con số thống kê hiện nay ở Lào có hơn 20.000 tăng ni, khoảng 6.300 cơ sở thờ tự, chiếm khoảng 85% dân số nƣớc này.
Phật giáo Thƣợng tọa bộ ở Lào phân chia thành 2 phái nhỏ là Đại tông phái truyền thống chiếm 94% số chùa, 90% số sƣ sãi và Pháp tông phái vốn do nhà vua Mongkut của vƣơng triều Chakri (Thái Lan) lập ra khi nhà vua chƣa lên ngôi, phái này chủ trƣơng cải cách Phật giáo, chủ trƣơng bảo vệ giới luật nghiêm túc, do các cao tăng điều hành. Sƣ tăng của phái này tuy hạn chế, nhƣng phần lớn là các quý tộc xuất gia, nhiều nhà trí thức đƣợc Hoàng gia Lào ủng hộ.2 Phái Đại thừa Gồm các nƣớc: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Singapore, Tây Tạng, Mông Cổ và Việt Nam. Ngƣời xuất gia ở Phái Đại thừa thƣờng là ăn trƣờng trai (ăn chay trƣờng) và ăn nhiều bữa trong ngày. Tuy nhiên, ở các xứ nhƣ Tây Tạng, Mông Cổ, tuy là theo Phái Đại thừa nhƣng tăng sĩ ở đấy vẫn ăn mặn.
Một bộ phận lớn của Tăng sĩ Nhật Bản và Triều Tiên cũng ăn mặn.