Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng bệnh viêm phổi ở trẻ từ 02 tháng đến 05 tuổi tại bệnh viện quận 8 từ tháng 22020 đến 122020

Khóa luận nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm phổi ở trẻ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Quận 8 từ tháng 2/2020 đến 12/2020.

Trường đại học

Đại học Võ Trường Toản

Chuyên ngành

Bác sĩ đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

80
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Định nghĩa viêm phổi

1.2. Đặc điểm dịch tể học của viêm phổi

1.3. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý bộ máy hô hấp của trẻ

1.4. Nguyên nhân viêm phổi

1.5. Cơ chế bệnh sinh của viêm phổi

1.6. Lâm sàng

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Các đối tượng nghiên cứu. Tiêu chuẩn chọn đối tượng

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

3.2. Lý do vào viện

3.3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

3.3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.3.3. Triệu chứng lâm sàng

3.3.4. Đặc điểm cận lâm sàng

4. BỘ CÂU HỎI THU THẬP SỐ LIỆU

5. DANH SÁCH BỆNH NHI

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng viêm phổi ở trẻ 2 tháng đến 5 tuổi

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm lâm sàng của viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Quận 8. Các triệu chứng phổ biến bao gồm sốt, ho, khó thở, và thở nhanh. Sốt là dấu hiệu thường gặp nhưng không đặc hiệu, trong khi thở nhanh được xem là dấu hiệu nhạy nhất để chẩn đoán viêm phổi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ nhỏ thường có biểu hiện lâm sàng kín đáo hơn so với trẻ lớn, đặc biệt là ở giai đoạn khởi phát. Các triệu chứng tiêu hóa như nôn ói, chướng bụng, và tiêu chảy cũng được ghi nhận, đặc biệt ở trẻ dưới 1 tuổi.

1.1. Triệu chứng cơ năng

Các triệu chứng cơ năng bao gồm ho, sốt, và khó thở. Ho là triệu chứng phổ biến nhất, xuất hiện ở 95% trường hợp. Sốt có thể từ nhẹ đến cao, tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh. Khó thở, thở rên, và co kéo cơ hô hấp là những dấu hiệu quan trọng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của viêm phổi.

1.2. Triệu chứng thực thể

Các triệu chứng thực thể như thở nhanh, rút lõm lồng ngực, và ran nổ được ghi nhận. Thở nhanh là dấu hiệu nhạy nhất, đặc biệt ở trẻ dưới 5 tuổi. Ran nổ và ẩm nhỏ hạt thường xuất hiện ở trẻ lớn, trong khi trẻ nhỏ có thể không có biểu hiện rõ ràng.

II. Đặc điểm cận lâm sàng viêm phổi ở trẻ 2 tháng đến 5 tuổi

Nghiên cứu cũng phân tích đặc điểm cận lâm sàng của viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi. Các xét nghiệm phổ biến bao gồm công thức máu, X-Quang phổi, và CRP. Công thức máu cho thấy sự gia tăng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu trung tính, trong khi X-Quang phổi giúp xác định vị trí và mức độ tổn thương phổi. CRP tăng cao thường liên quan đến nhiễm khuẩn.

2.1. Công thức máu

Công thức máu cho thấy sự gia tăng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu trung tính, là dấu hiệu phổ biến trong viêm phổi do vi khuẩn. Số lượng bạch cầu tăng cao thường liên quan đến mức độ nghiêm trọng của bệnh.

2.2. X Quang phổi

X-Quang phổi là công cụ quan trọng để chẩn đoán viêm phổi. Các hình ảnh thường gặp bao gồm đông đặc phổi, tràn dịch màng phổi, và tổn thương nhu mô phổi. X-Quang cũng giúp phân biệt giữa viêm phổi do vi khuẩn và virus.

III. Nguyên nhân và phân loại viêm phổi

Nghiên cứu xác định các nguyên nhân viêm phổi chủ yếu do virus và vi khuẩn. Virus hợp bào hô hấp (RSV) và rhinovirus là tác nhân phổ biến ở trẻ dưới 2 tuổi, trong khi Streptococcus pneumoniaeHaemophilus influenzae là nguyên nhân chính ở trẻ lớn hơn. Nghiên cứu cũng phân loại viêm phổi thành viêm phổi mắc phải tại cộng đồng, viêm phổi mắc phải tại bệnh viện, và viêm phổi liên quan đến thở máy.

3.1. Nguyên nhân do virus

Virus là tác nhân chính gây viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là RSV và rhinovirus. Các virus khác như influenza và parainfluenza cũng được ghi nhận. Nhiễm nhiều virus cùng lúc chiếm khoảng 20% trường hợp.

3.2. Nguyên nhân do vi khuẩn

Streptococcus pneumoniaeHaemophilus influenzae là hai vi khuẩn phổ biến gây viêm phổi ở trẻ em. Các vi khuẩn khác như Staphylococcus aureusMoraxella catarrhalis cũng được ghi nhận, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

IV. Tình trạng sức khỏe và dịch tễ học viêm phổi

Nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng quan về tình trạng sức khỏe trẻ emdịch tễ học viêm phổi tại Bệnh viện Quận 8. Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn vào mùa lạnh và ở những trẻ có điều kiện kinh tế-xã hội thấp.

4.1. Dịch tễ học

Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi, chiếm khoảng 15% tổng số ca tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở các nước đang phát triển, đặc biệt là vào mùa lạnh.

4.2. Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi nhỏ (dưới 1 tuổi), điều kiện kinh tế-xã hội thấp, môi trường đông đúc, và ô nhiễm không khí. Trẻ sinh non, nhẹ cân, và suy dinh dưỡng cũng có nguy cơ cao mắc viêm phổi.

V. Chẩn đoán và điều trị viêm phổi

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của chẩn đoán viêm phổi kịp thời và chính xác để giảm tỷ lệ tử vong. Các phương pháp chẩn đoán bao gồm khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng, và X-Quang phổi. Điều trị viêm phổi chủ yếu dựa trên nguyên nhân gây bệnh, bao gồm kháng sinh cho viêm phổi do vi khuẩn và hỗ trợ hô hấp cho các trường hợp nặng.

5.1. Chẩn đoán

Chẩn đoán viêm phổi dựa trên các triệu chứng lâm sàng như thở nhanh, rút lõm lồng ngực, và kết quả X-Quang phổi. Xét nghiệm CRP và công thức máu cũng giúp xác định nguyên nhân gây bệnh.

5.2. Điều trị

Điều trị viêm phổi bao gồm kháng sinh cho các trường hợp do vi khuẩn và hỗ trợ hô hấp như oxy liệu pháp cho các trường hợp nặng. Việc điều trị kịp thời giúp giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng bệnh viêm phổi ở trẻ từ 02 tháng đến 05 tuổi tại bệnh viện quận 8 từ tháng 22020 đến 122020

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa viêm phổi Viêm phổi là tình trạng tổn thương viêm nhu mô phổi, có thể lan tỏa cả hai phổi hoặc tập trung ở một thùy phổi. Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), viêm phổi bao gồm viêm phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phổi thùy và áp xe phổi [8]. Viêm phổi được chia làm 4 loại: viêm phổi mắc phải tại cộng đồng, viêm phổi mắc phải tại bệnh viện, viêm phổi liên quan đến thở máy, viêm phổi liên quan đến chăm sóc y tế [31].2 Đặc điểm dịch tể học của viêm phổi 1. Tỉ lệ mắc bệnh: Viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở trẻ nhỏ đặc biệt trẻ dưới 5 tuổi, 1.9 triệu trẻ tử vong hằng năm do viêm phổi.

Theo tổ chức y tế thế giới, mỗi năm có 156 triệu trường hợp viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó 20 triệu trường hợp nặng cần phải nhập viện cấp cứu. Ở các nước phát triển, ước tính tỉ lệ mắc hằng năm của viêm phổi là 33/10.000 trẻ em dưới 5 tuổi và 14. Ở các nước đang phát triển, chỉ số mới mắc bệnh ở lứa tuổi này là 0.29 đợt bệnh/ trẻ/ năm, cao gấp 10 lần so với các nước phát triển (0. Trong số các trường hợp viêm phổi, 7-13% trẻ có dấu hiệu nặng đe dọa tính mạng cần nhập viện [25].

Tỉ lệ mắc viêm phổi toàn cầu trung bình ước tính trong năm 2010 ở trẻ e dưới 5 tuổi là 0.5% trong số đó đủ nặng để nhập viện, con số này thấp hơn ít nhất 25% so với ước tính một thập kỷ trước đó. Tỷ lệ mắc ước tính ở các nước thu nhập cao là 0. Theo nghiên cứu của Đặng Đức Anh năm 2017, ở 3 bệnh viện tại Hà Nội, Huế, Hồ Chí Minh, viêm phổi chiếm 5.4% trong tổng số ca trẻ em nhập viện, ước tính tỷ lệ mắc là 7,3/1000 trẻ [30]. Tỉ lệ tử vong: Ở các nước phát triển có tỉ lệ tử vong thấp (<1/1000 trẻ/ năm).

Ngược lại ở các nước đang phát triển, nhiễm trùng hô hấp thường nặng hơn, viêm phổi là một trong những nguyên nhân tử vong chính ở các nước này và ước tính 2 triệu ca tử vong hằng năm [25]. Ở Việt Nam, tử vong do viêm phổi đứng hàng đầu trong bệnh hô hấp (75%) cũng như so với tử vong chung (30-35%). Hằng năm vẫn có khoảng 4000 trẻ em dưới 5 tuổi chết vì viêm phổi [18]. Mùa: Mặc dù viêm phổi do cả virus và vi khuẩn xảy ra trong cả năm, nhưng người ta thấy rằng tỉ lệ này nhiều hơn trong mùa lạnh, có thể do việc lây nhiễm qua các giọt bắn và tỉ lệ nhiễm khuẩn tại nhà nhiều hơn, một số khác không rõ nguyên nhân.

Ở Việt Nam thời gian mắc bệnh viêm phổi nhiều nhất trong năm vào những tháng giao mùa: tháng 4-5 và tháng 9-10, có thể do yếu tố ẩm, nóng gió mùa Việt Nam [1]. Yếu tố thuận lợi: [8] - Tuổi: trẻ dưới 1 tuổi, đặc biệt trẻ sơ sinh. - Hoàn cảnh kinh tế-xã hội thấp. - Môi trường đông đúc, vệ sinh kém, ô nhiễm không khí.

- Cha mẹ hút thuốc lá, khói bụi trong nhà. - Trẻ sinh non, sinh nhẹ cân, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, bệnh sởi hoặc không tiêm phòng sởi đầy đủ. - Không biết cách chăm sóc trẻ.3 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý bộ máy hô hấp của trẻ 1. Sơ sinh và nhũ nhi - Đường hô hấp hẹp và ngắn nên dễ bị viêm lan tỏa.

4 - Niêm mạc hô hấp có nhiều mao mạch nên khi viêm dễ bị phù nề và xuất tiết nhiều gây chít hẹp đường thở. - Số lượng phế nang ít. Kích thước phế nang nhỏ. - Thông khí bàng hệ kém nên dễ bị xẹp phổi.

- Lồng ngực mềm, các xương sườn nằm ngang, dãn nở kém nên dễ bị biến dạng - Các cơ hô hấp hoạt động chưa tốt nên trẻ thở chủ yếu bằng bụng - Não chưa điều hòa nhịp thở tốt, trẻ dễ có cơn ngưng thở hoặc thở không đều. Trẻ lớn: - Các tiểu phế quản tăng về chiều dài và đường kính. Lúc sinh các tiểu phế quản ở thế hệ thứ 16 tiếp tục phân chia đến thế hệ 25-30 lúc 20 tuổi, đường kính tiểu phế quản tăng từ 0.2 mm, gấp 4 lần. - Số lượng phế nang tăng từ 24 triệu lúc mới sinh lên 300 triệu lúc 8 tuổi, 400 -600 triệu ở người lớn, làm tăng diện tích trao đổi khí từ 3m2 đến 50m2.

- Kích thước phế nang phát triển từ 2-3 tuổi đến dậy thì. - Thông khí bàng hệ qua lỗ Kohn và kênh Lambert xuất hiện 2-8 tuổi. - Lồng ngực phát triển tốt, cơ hô hấp mạnh hơn và hoạt động vỏ não hoàn chỉnh. -Trẻ lớn ít bị nhiễm trùng.

Nếu có, ít bị lan toản, thường khu trú ở một thùy hoặc phân thùy nên ít bị suy hô hấp, ngừng thở và kiệt sức.4 Nguyên nhân viêm phổi: 1. Do vi sinh: - Virus: Virus là tác nhân gây viêm đường hô hấp dưới chủ yếu ở trẻ sau 1 tháng tuổi và trẻ nhỏ <5 tuổi. Khác với viêm tiểu phế quản (tỉ lệ mắc cao nhất là trong năm đầu), tỉ lệ viêm phổi do virus cao nhất ở trẻ 2-3 tuổi, sau đó giảm dần. Virus có thể phát hiện ở 40-80% các trường hợp viêm phổi ở trẻ em bằng phương pháp chẩn đoán phân tử.

Trong các virus hô hấp, virus hợp bào hô hấp 5 (respiratory syncytial virus, RSV) và rhinoviruses là các tác nhân chính, đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi. Các virus khác gồm influenza virus, parainfluenza viruses, adenoviruses, enteroviruses, và human metapneumovirus. Nhiễm nhiều hơn 1 virus hô hấp gặp đến 20% trường hợp. Tùy lứa tuổi có thể giúp nhận biết các tác nhân có thể gặp.

RSV thường gây bệnh nặng ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ, trong khi influenza virus gây bệnh hô hấp cấp ở tất cả các lứa tuổi [40]. - Vi khuẩn: Theo nghiên cứu của Zhang. Q và cộng sự năm 2013 ở miền Nam Trung Quốc 10 836 trẻ em nhập viện viêm phổi do vi khuẩn là 23%, trong đó Streptococcus pneumoniae 7%, Haemophilus influenza b (Hib) 4%, Mycoplasma 11%. - Ký sinh trùng, nấm: Viêm phổi ở trẻ em có thể do Pneumocystis carinii, Toxoplasma, Histoplasma, Candida.

Không do vi sinh: - Hít sặc: thức ăn, dịch vị, dị vật, dầu hôi. - Thuốc, phóng xạ. - Trào ngược dạ dày thực quản. Nguyên nhân vi sinh gây viêm phổi cộng đồng theo lứa tuổi Bảng 1.

Nguyên nhân vi sinh gây viêm phổi cộng đồng theo lứa tuổi Sơ sinh 01-06 tháng 06-12 tháng 01- 05 tuổi >05 tuổi Streptococcus Siêu vi Siêu vi Siêu vi Siêu vi Enteric Gram Streptococcus Streptococcus M.pneumoniae, âm Pneumonia, Pneumonia, S. pneumonia, RSV Haemophilus Haemophilus C. influenza, influenza, Staphylococcus Staphylococcus aureus, aureus, Moraxella Moraxella catarrhalis, catarrhalis. 6 Chlamydia trachomatis, Ureaplasma urealyticum, Bordetella pertussis.

Cơ chế bệnh sinh của viêm phổi: 1. Tác nhân gây viêm phổi có thể theo những đường vào sau đây: - Hít phải vi khuẩn ở môi trường bên ngoài, trong không khí. - Từ các ổ nhiễm khuẩn đường hô hấp trên lan đến phổi. - Vi khuẩn theo đường máu từ những ổ hiễm khuẩn xa.2 Cơ chế bệnh sinh: 7 - Vi khuẩn hoặc virus xâm nhập vào phổi gây tổn thương viêm các phế quản nhỏ, phế nang và tổ chức xung quanh.

Do phổi bị tổn thương gây tăng tiết đờm dãi, phù nề niêm mạc phế quản gây bít tắc đường thở dẫn đến rối loạn thông khí và khuếch tán khí, cuối cùng là suy hô hấp. Hậu quả của suy hô hấp là thiếu O2 và tăng CO2 trong máu và gây nên các rối loạn bệnh lý khác: - Rối loạn thông khí: +Do đường thở bị bít tắc làm giảm thông khí, CO2 không ra ngoài được gây tăng CO2 trong máu, nó kết hợp với H2O tạo thành H2CO3 gây toan hô hấp. Cũng do đường thở bị tắc, O2 từ phế nang vào máu ít, gây thiếu O2 trong máu dẫn đến chuyển hóa yếm khí tạo ra nhiều sản phẩm acid lactic gây toan chuyển hóa. - Rối loạn tim mạch: hay gặp là trụy mạch và suy tim do: +Suy hô hấp, thiếu O2 tim phải co bóp nhiều hơn để tống máu có O2 dự trữ đi nuôi cơ thể, đồng thời cơ tim không được nuôi dưỡng dẫn đến suy tim.

+Do độc tố của vi khuẩn và virus tác động đến cơ tim và trung tâm vận mạch ngoại biên gây trụy mạch. +Mất nước, điện giải do trẻ thở nhanh, sốt, nôn hoặc tiêu chảy kèm theo.6 Lâm sàng - Viêm phổi trẻ em thường diễn tiến qua hai giai đoạn: 1. Giai đoạn khởi phát: - Triệu chứng cơ năng: + Nhiễm siêu vi: sốt nhẹ, sổ mũi, ho. + Nhiễm khuẩn: sốt cao, lạnh run, nhức đầu hoặc quấy khóc ở trẻ nhỏ.

8 +Ngoài triệu chứng hô hấp trẻ có thêm triệu chứng tiêu hóa: ói, ọc, biếng ăn, đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy thường nổi bật ở trẻ nhỏ. - Triệu chứng thực thể: chưa thấy triệu chứng đặc hiệu phổi. Giai đoạn toàn phát: - Nhóm dấu hiệu, triệu chứng không đặc hiệu: + Sốt từ nhẹ đến cao tùy nguyên nhân gây bệnh. + Mệt mỏi, quấy khóc, nhức đầu, ớn lạnh.

+ Rối loạn tiêu hóa: nôn ói, chướng bụng, tiêu chảy và đau bụng. + Chướng bụng có thể nổi bật bởi sự giãn nở dạ dày do nuốt không khí. + Đau bụng thường gặp ở viêm phổi thùy dưới. Gan có thể to bởi cơ hoành dịch chuyển xuống phía dưới do tăng nở phồng của phổi hoặc suy tim xung huyết.

- Nhóm dấu hiệu, triệu chứng tại phổi: có giá trị nhất cho chẩn đoán viêm phổi nhưng nhiều khi không biểu hiện rõ ở trẻ nhỏ. + Ho: lúc đầu ho khan, sau đó ho có đờm, có thể không có ho ở trẻ nhỏ + Đau ngực: thường gặp trong viêm phổi có biến chứng màng phổi. + Suy hô hấp: biểu hiện bằng: Thở nhanh: thở nhanh là dấu hiệu nhạy nhất trong chẩn đoán viêm phổi trẻ em. Khó thở, thở rên, thở co kéo cơ bụng và liên sườn, phập phồng cánh mũi, tím tái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm phổi ở trẻ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Quận 8 (2020) là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh viêm phổi ở trẻ nhỏ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về các triệu chứng, chẩn đoán và phương pháp điều trị mà còn đưa ra những thông tin hữu ích giúp cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em trong độ tuổi này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và phụ huynh quan tâm đến sức khỏe nhi khoa.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án thực trạng và hiệu quả sử dụng dịch vụ quản lý chăm sóc người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen ở một số đơn vị quản lý bệnh phổi mạn tính tại Việt Nam, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về quản lý bệnh phổi mạn tính. Ngoài ra, Phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum năm 2022 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực hành kê đơn thuốc trong điều trị bệnh. Cuối cùng, Luận văn thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang là tài liệu hữu ích để tìm hiểu về công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.