Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 KHÁI NIỆM VỀ TẬT KHÚC XẠ TRẺ EM 1.1 Định nghĩa tật khúc xạ Mắt chính thị là mắt có cấu tạo hài hòa giữa chiều dài trục trước sau và công suất hội tụ của mắt. Khi nhìn một vật ở vô cực (về quang sinh lý là 5m), các tia sáng song song từ vô cực tới mắt sẽ hội tụ trên võng mạc. Hay nói cách khác, mắt chính thị có tiêu điểm sau trùng với võng mạc. Khi đó mắt sẽ nhìn rõ nét vật [7].
Mắt không chính thị là sự khiếm khuyết giữa chiều dài trục trước sau và công suất hội tụ của mắt. Mắt không chính thị hình cầu: các bình diện khúc xạ vẫn là hình cầu, gồm cận thị và viễn thị. Mắt không chính thị không hình cầu: các bình diện khúc xạ là hình elip, là tật loạn thị [7].1 Cận thị Cận thị là tình trạng hình ảnh của vật được hội tụ phía trước võng mạc, người mắc cận thị muốn nhìn rõ vật phải đưa vật lại gần hay gọi theo cách khác là mắt nhìn gần [3], [24], [29].1 Mô tả mắt cận thị và mắt chính thị 1.2 Viễn thị Viễn thị là tình trạng hình ảnh của vật được hội tụ phía sau võng mạc, người mắc viễn thị muốn nhìn rõ vật phải đưa vật ra xa, hay gọi theo cách khác là mắt nhìn xa [3], [24], [29].2 Mô tả mắt viễn thị và mắt chính thị 1.3 Loạn thị Loạn thị là tình trạng hệ quang học của mắt có công suất khúc xạ không đều trên các kinh tuyến khác nhau [3], [24], [29].3 Mô tả mắt loạn thị và mắt chính thị 1.2 Phân loại tật khúc xạ 1.1 Phân loại cận thị Phân loại theo mức độ cận thị [18], [24]: - Cận thị nhẹ: dưới -3D - Cận thị trung bình: từ -3D đến -6D - Cận thị nặng: trên -6D 5 Phân loại theo các thể lâm sàng: - Cận thị đơn thuần (cận thị sinh lý hay cận thị học đường): là cận thị có sự mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt khiến cho ảnh của vật ở phía trước võng mạc. Nhưng chiều dài của trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt đều ở trong giới hạn bình thường [18].
- Cận thị điều tiết: là một rối loạn chức năng thị giác thường do co quắp cơ thể mi dẫn đến co quắp điều tiết làm cho các tia sáng song song tới mắt hội tụ tại tiêu điểm trước võng mạc giống như cận thị thật [18]. - Cận thị bệnh lý: là cận thị mà chiều dài trục nhãn cầu và độ hội tụ của mắt vượt quá giới hạn bình thường. Loại cận thị này thường ở mức độ từ -7D trở lên và có khi lên tới -20,0D hoặc lớn hơn [18].2 Phân loại viễn thị Mắt được coi là viễn thị khi số đo bằng máy đo khúc xạ tự động sau nhỏ thuốc liệt điều tiết có SE từ +0,50D trở lên. Biểu hiện các mức độ [24]: - Viễn thị nhẹ ≤ +2,00D - Viễn thị trung bình từ +2,25D đến + 5,00D - Viễn thị nặng > + 5,00D 1.3 Phân loại loạn thị Mắt được coi là loạn thị khi số đo bằng máy đo khúc xạ tự động sau nhỏ thuốc liệt điều tiết có độ trụ từ 0,75D trở lên.
Biểu hiện các mức độ [24]: - Loạn thị nhẹ < 1,00D - Loạn thị trung bình từ 1,00D đến 2,00D - Loạn thị nặng từ 2,25D đến 3,00D, loạn thị rất nặng > 3,00D 1.3 Nguyên nhân gây tật khúc xạ 1.1 Nguyên nhân cận thị Nguyên nhân bẩm sinh: nguyên nhân của cận thị thông thường là do sự sai lạc phát triển xảy ra ở thời kỳ phôi thai và thời kỳ phát triển tích cực. Những rối loạn dẫn đến những bất thường của những thành phần cấu tạo khúc xạ nhãn cầu như: độ cong giác mạc, độ sâu tiền phòng. Di truyền đóng một vai trò cao và khá rõ nét trong cận thị bẩm sinh và cận thị nặng [24], [29]. 6 Nguyên nhân môi trường: môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ của mắt học sinh, sự gắng sức trong làm việc ở thị giác gần kéo dài.
Đối với lứa tuổi học sinh, yếu tố trường học là một trong những nguyên nhân chính có nguy cơ dẫn đến tật khúc xạ. Các yếu tố trường học có thể kể đến là: Ánh sáng: Thị lực phụ thuộc vào độ chiếu sáng, nếu tăng độ chiếu sáng thì khả năng phân biệt những vật nhỏ sẽ tăng. Do vậy, thiếu ánh sáng và chiếu sáng không hợp lý trong khi học sẽ gây mỏi điều tiết là một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho tật khúc xạ phát sinh và phát triển [24], [29]. Kích thước bàn ghế: Bàn ghế thiếu, kích thước không phù hợp với lứa tuổi học sinh, sắp xếp sai quy cách, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường: bàn cao ghế thấp hoặc bàn thấp ghế cao (hiệu số bàn ghế sử dụng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường) [29].
Một số yếu tố bất lợi khác: một số yếu tố bất lợi khác như sách vở, chữ viết. chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh, nhìn gần liên tục, đọc sách truyện quá nhiều, nhất là sách truyện có cỡ chữ nhỏ, giấy đen. Do chế độ học tập quá căng thẳng. Gần đây nguyên nhân do một số trò chơi giải trí như điện tử, băng hoạt hình ngày càng nhiều và chiếm nhiều thời gian học tập, nghỉ ngơi của học sinh, mắt phải điều tiết nhiều, là điều kiện có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của tật khúc xạ [24], [29].2 Nguyên nhân viễn thị Viễn thị sinh lý: viễn thị gây ra bởi sự mất cân bằng hài hòa giữa trục trước sau của nhãn cầu và lực quang học của mắt khiến cho ảnh hội tụ sau võng mạc.
Viễn thị được cho là sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và các biến đổi sinh lý khác của mắt. Yếu tố môi trường ít gây tác động lên viễn thị hơn so với cận thị [24], [29]. Viễn thị bệnh lý: viễn thị bệnh lý gây ra bởi sự phát triển bất thường diễn ra trong quá trình bào thai hoặc sơ sinh, do các biến đổi ở giác mạc và thủy tinh thể, do viêm hoặc u tăng sinh ở hắc võng mạc hoặc hốc mắt, hoặc do nguyên nhân thần kinh hoặc hóa học. Viễn thị bệnh lý có thể liên quan đến các bệnh lý nặng ở mắt hoặc toàn thân [24], [29].3 Nguyên nhân loạn thị Do mặt trước giác mạc: đây là nguyên nhân thông thường nhất gây ra loạn thị.
Do sự khác biệt về chiết suất giữa các môi trường nên một sự thay đổi bán kính độ cong không lớn trên giác mạc cũng có thể gây ra sự khác biệt lớn về mặt công suất giữa các kinh tuyến và từ đó tạo ra loạn thị [24], [29]. Do mặt sau giác mạc: một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặt sau của giác mạc cũng đóng góp vào việc tạo nên loạn thị. Tuy nhiên việc đo xác định loạn thị mặt sau giác mạc khó thực hiện với các phương tiện đo thông thường như máy đo độ cong giác mạc [24], [29]. Do thủy tinh thể: Loạn thị của thủy tinh thể thường là loạn thị nghịch và loạn thị này sẽ phối hợp với loạn thị thuận của giác mạc, điều này khiến mắt thành không loạn thị và đây là trường hợp của đa số các mắt thông thường.Việc thủy tinh thể bị lệch hoặc nghiêng cũng tạo ra loạn thị [24], [29].4 Điều trị tật khúc xạ 1.1 Điều trị tật khúc xạ bằng đeo kính gọng Điều chỉnh quang học thông dụng nhất hiện nay là kính gọng, tùy thuộc vào các loại tật khúc xạ (cận thị, viễn thị và loạn thị) để điều chỉnh kính cho phù hợp với từng bệnh nhân.
Dùng kính gọng là phương pháp thông dụng, rẻ tiền, có thể áp dụng được cho nhiều đối tượng và có thể thay đổi gọng kính theo thời trang. Kính gọng sẽ an toàn cho mắt nhất là khi tròng kính làm bằng chất liệu nhựa hoặc polycarbonate do tính chống va đập tốt của chất liệu. Tuy nhiên, đeo kính gọng bệnh nhân chỉ nhìn thấy rõ khi đeo kính, khi không có sự hỗ trợ của kính thì lại thấy mờ như cũ, người bị tật khúc xạ luôn luôn phải phụ thuộc vào cặp kính mọi lúc, mọi nơi, gây nhiều bất tiện trong các hoạt động thể thao, giải trí. Ngoài ra khi đeo kính gọng, góc nhìn bị thu hẹp, hình ảnh bị thu nhỏ, nhất là với những người bị cận thị nặng [24], [29].2 Điều trị tật khúc xạ bằng đeo kính tiếp xúc (kính áp tròng) Kính tiếp xúc là một hình chỏm cầu bằng nhựa tổng hợp, trong suốt, được áp trực tiếp lên giác mạc.
Kính tiếp xúc cho hình ảnh võng mạc có kích thước lớn hơn kính gọng, nhất là trong các trường hợp cận thị nặng. Kính tiếp xúc làm giảm đáng kể các khó chịu do sức nặng của gọng kính, thị trường thu hẹp và tác dụng lăng kính 8 mà bệnh nhân gặp phải khi đeo kính gọng. Kính tiếp xúc giải quyết được những yếu điểm của kính gọng, có tính thẩm mỹ cao, thích hợp để điều chỉnh bất đồng khúc xạ, thuận tiện khi chơi thể thao, không bị bám hơi nước và có thể thay đổi màu mắt. Tuy nhiên những người sử dụng kính cần phải giữ gìn vệ sinh tốt khi đeo kính tiếp xúc, đặc biệt trong môi trường nóng, ẩm, nhiều bụi như ở Việt Nam [24], [29].3 Chỉnh giác mạc bằng kính tiếp xúc cứng thấm khí Orthokeratology Đây là phương pháp sử dụng các kính tiếp xúc cứng thấm khí đeo trong một thời gian nhất định.
Việc đeo loại kính này giúp làm dẹt vùng trung tâm giác mạc trong một thời gian. Điều này giúp điều chỉnh được tật khúc xạ. Ngoài thiết kế đặc biệt loại kính tiếp xúc này do phải đeo về đêm khi đi ngủ nên phải làm bằng chất liệu có tính thấm khí cao. Phương pháp này có thể điều chỉnh cận thị đến - 6,00D và loạn thị tới +/- 0,75D [24], [29].4 Huấn luyện thị giác Đối với cận thị huấn luyện thị giác có tác dụng làm giảm điều tiết trong trường hợp cận thị giả, nhưng trên các bệnh nhân cận thị thông thường việc huấn luyện chưa chứng minh được khả năng làm chậm sự phát triển của cận thị hoặc làm giảm độ cận thị [24], [29].
Đối với viễn thị huấn luyện thị giác là một điều trị hữu hiệu cho các rối loạn về điều tiết hoặc những rối loạn về thị giác 2 mắt gây ra do viễn thị. Huấn luyện thị giác giúp cải thiện tình trạng điều tiết của bệnh nhân vốn không cải thiện hoàn toàn bằng việc đeo kính gọng.