CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Chất lượng cuộc sống Trong nhiều năm gần đây, chất lượng cuộc sống (CLCS) là một chủ đề đang được cả xã hội quan tâm. Các vấn đề về CLCS và nâng cao CLCS là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con người, trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia, cả về sức khỏe, kinh tế và xã hội.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO), “Chất lượng cuộc sống là cảm nhận của một cá nhân về vai trò của họ trong xã hội, trong bối cảnh văn hóa và các giá trị hệ thống mà họ thuộc về, liên quan đến mục tiêu, sự kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của bản thân”. Đây là một khái niệm đa chiều có phạm vi ảnh hưởng tới nhiều yếu tố, bao gồm: sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, mối quan hệ xã hội và môi trường sống của cá nhân (23). Các thang đo CLCS thường tập trung vào các khía cạnh bao gồm sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, niềm tin cá nhân, quan hệ xã hội và môi trường sống. Hiện nay có nhiều thang đo được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống của cộng đồng trên Thế giới.
Trong đó có một số thang đo đã được chuẩn hóa và thường được sử dụng tại Việt Nam như World Health Organization Quality of Life – BREF (WHOQOL-BREF), the Short Form – 36 (SF-36), EuroQoL – 5 dimension 5 level (EQ-5D-5L). (Xem chi tiết về thang đo tại bảng 3, trang 28) Tóm lại, CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa về sự hài lòng của một cá nhân trước tất cả các yếu tố trong cuộc sống. CLCS đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phòng ngừa, điều trị và công tác cải thiện sức khỏe toàn dân. Đánh giá CLCS là cơ sở tin cậy giúp các bác sĩ và các nhà hoạch định chính sách theo dõi, quản lý bệnh nhân và đưa ra những chiến lược can thiệp phù hợp để cải thiện sức khỏe cộng đồng cả về thể chất, tinh thần, xã hội và góp phần ngăn ngừa những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (13).
Do đó, việc đo lường và đánh giá CLCS của cộng đồng cũng như tìm hiểu các yếu tố liên quan đến CLCS là rất quan trọng và cần được các nhà hoạch định chính sách quan tâm nhiều hơn. Người cao tuổi Hiện nay, khái niệm về người cao tuổi (NCT) chưa được thống nhất trên Thế giới. NCT thường được định nghĩa thông qua sự tập hợp của các đặc điểm về tuổi theo thời gian, sự thay đổi vai trò trong xã hội và sự thay đổi chức năng sống (24). Theo định nghĩa của WHO, NCT là những người từ 65 tuổi trở lên (25).
Liên Hợp Quốc xác định NCT là những người từ 60 tuổi trở lên. Khái niệm về NCT còn gây nhiều tranh cãi bởi sự khác biệt về văn hóa – xã hội từng khu vực (26). Những năm gần đây tại Việt Nam, khái niệm “Người cao tuổi” đang trở nên phổ biến và được sử dụng thay thế cho “Người già”. Hai cụm từ này không có sự khác biệt về mặt khoa học nhưng cụm từ “Người cao tuổi” đã thể hiện sự tôn trọng, thành kính hơn.
Căn cứ theo quy định của Pháp lệnh về NCT, công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên được gọi là NCT (27). Cũng theo Pháp lệnh này, các cơ sở y tế xã phường cần có trách nhiệm theo dõi, quản lý trực tiếp, chăm sóc sức khỏe ban đầu và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho NCT sinh sống trên địa bàn. Trong nghiên cứu này, NCT được xác định là những người từ 60 tuổi trở lên. Tăng huyết áp Định nghĩa: Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể.
Tăng huyết áp (THA) là một tình trạng bệnh mạn tính xuất hiện cả ở người trẻ tuổi và phổ biến ở người cao tuổi. Theo WHO, người được chẩn đoán mắc THA khi huyết áp tâm thu/ huyết áp tâm trương đo được từ 140/90 mmHg trở lên (28) hoặc ở những người huyết áp không tăng nhưng đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim, tai biến mạch máu não do THA (29). 6 Phân loại: Tại Việt Nam, THA được chia thành các mức độ như sau: Bảng 1. Phân loại các mức độ tăng huyết áp tại Việt Nam (30) Huyết áp Tâm thu Tâm trương Tối ưu < 120 Và < 80 Bình thường 120 – 129 Và/hoặc 80 - 84 Bình thường cao 130 – 139 Và/hoặc 85 - 89 THA độ 1 140 – 159 Và/hoặc 90 - 99 THA độ 2 160 – 179 Và/hoặc 100 - 109 THA độ 3 ≥ 180 Và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và ≤ 90 Biến chứng: Theo WHO, không phải ai mắc THA cũng biểu hiện bệnh.
Điều này có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng như đau thắt ngực, đau tim, suy tim, nhịp tim không đều và đột quỵ. THA để lại nhưng biến chứng nặng nề cho người mắc như mất ý thức, liệt nửa người,…, làm mất khả năng lao động, cần được chăm sóc và phục vụ lâu dài. Không những vậy, THA có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến tử vong đột ngột (28). Yếu tố nguy cơ: Có nhiều yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp như béo phì (10), uống rượu bia, sử dụng thuốc lá và địa vị trong xã hội (31).
Các nguy cơ đó có thể phòng được nếu cộng đồng biết cách phòng tránh (28). Tuy nhiên cũng có một số nguy cơ khác không thể thay đổi như tiền sử gia đình bị tăng huyết áp (32), người trên 65 tuổi và các bệnh mắc đồng thời như bệnh đái tháo đường hoặc bệnh thận (28). Đối với những người đang mắc THA, bệnh có thể trầm trọng thêm khi tinh thần trở nên căng thẳng, không tuân thủ điều trị bệnh theo hướng dẫn của chuyên gia y tế (33), sử dụng thuốc lá, uống rượu bia (32, 34), chế độ ăn uống không lành mạnh và ít hoặc không tập thể dục (28). Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi 1.
Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi trên Thế giới THA không phải là một quá trình bình thường của lão hóa, mà là một bệnh mạn tính gây suy giảm cuộc sống ở NCT. Tỷ lệ lưu hành bệnh THA có xu hướng tăng theo tuổi, với 12,6% ở người 35 – 39 tuổi lên 58,4% ở người 70 – 74 tuổi (35). Nghiên cứu tổng quan hệ thống tại 90 quốc gia trên Thế giới với quy mô mẫu là 540 890 người (2016) cho thấy tỷ lệ NCT mắc THA có sự khác biệt giữa nhóm tuổi, giới tính và tình trạng kinh tế quốc gia. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp theo nhóm tuổi của nam và nữ ở các nước thu nhập cao và trung bình - thấp năm 2010 (36) Các nước thu nhập cao Các nước thu nhập thấp – trung bình Nhóm Nam Nữ Nam Nữ tuổi Tỷ lệ (KTC 95%) Tỷ lệ (KTC 95%) Tỷ lệ (KTC 95%) Tỷ lệ (KTC 95%) 60,8 60,9 55,3 61,9 60 – 69 (56,8 – 64,8) (56,7 – 65,0) (50,1 – 60,6) (56,2 – 67,7) 73,6 77,5 65,6 74,7 Trên 70 (70,0 – 77,3) (73,9 – 81,0) (60,6 – 70,7) (69,6 – 79,7) Chú thích: KTC 95% là Khoảng tin cậy 95% Bảng 2 cho thấy, nhìn chung các nước thu nhập cao có tỷ lệ NCT mắc THA cao hơn so với các nước thu nhập thấp – trung bình.
Tỷ lệ mắc THA tăng theo nhóm tuổi ở cả hai giới. Trong đó, nữ giới có tỷ lệ mắc THA cao hơn nam giới. Nữ giới trong nhóm 60 – 69 tuổi ở các nước thu nhập thấp – trung bình có tỷ lệ mắc cao hơn so với các nước thu nhập cao, các nhóm khác cho kết quả ngược lại. Mặc dù vậy, từ năm 2000 đến năm 2010, tỷ lệ mắc THA chuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6% ở các nước thu nhập cao và tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp – trung bình (36), mô hình bệnh THA vẫn đang biến đổi theo xu hướng này (37).
Thêm vào đó, dữ liệu nghiên cứu từ các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau chỉ ra tỷ lệ NCT mắc THA thay đổi theo khu vực, đặc biệt tỷ lệ THA ở khu vực thành thị cao hơn nông thôn do quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, già hóa dân số, lối sống không lành mạnh và hình thức xã hội (38, 39). Tổng quan hệ thống tỷ lệ mắc 8 THA ở các nước thành viên Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (2014) cho thấy tỷ lệ THA khác nhau giữa các quốc gia nghiên cứu (dao động từ 13,6% đến 47,9%) và khu vực thành thị có tỷ lệ mắc cao hơn nông thôn (40). Một nghiên cứu khác của Vilma E. Irazola và cộng sự (2016) trên nhiều quốc gia cho kết quả tương tự, trong đó thấp nhất ở Peru (42,6%; KTC 95%: 38,5 – 46,8) và cao nhất ở Uruguay (78,0%; KTC 95%: 73,7 – 82,2) (41).
Nghiên cứu tại Mỹ Latin, Ấn Độ, Trung Quốc báo cáo chỉ có hơn 1/3 người trên 65 tuổi ở hầu hết các khu đô thị tại Mỹ Latin và Trung Quốc được kiểm soát huyết áp dưới 140/90 mmHg, trong khi đó, các khu vực khác còn thấp hơn (42). Phân tích tổng hợp trên 38 nghiên cứu từ 23 quốc gia châu Phi chỉ ra tỷ lệ THA chung ở nhóm trên 70 tuổi cao hơn đáng kể (43). THA ảnh hưởng đến cuộc sống của hơn 50% người trên 60 tuổi và khoảng 66% người trên 65 tuổi (35). Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam Tại Việt Nam, THA khá phổ biến và có xu hướng gia tăng do tuổi thọ ngày càng cao.
Bệnh THA diễn tiến thầm lặng mà không có triệu chứng điển hình. Do đó, khá nhiều người bị mắc THA nhưng không biết tình trạng bệnh của mình, và chỉ đến khi bệnh biểu hiện nặng mới đi khám và điều trị. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện “Đề án chăm sóc sức khỏe NCT” trên toàn quốc. Để phòng và điều trị THA, các Đơn vị phòng chống THA (thuộc Trung tâm Y tế tuyến huyện) và Đơn vị Điều trị THA (thuộc Bệnh viện Đa khoa tuyến huyện) được xây dựng.
Tính đến năm 2015, dự án đã phát hiện, điều trị, quản lý khoảng hơn 800 000 người THA (44). Tỷ lệ mắc THA ở NCT tại Việt Nam khá cao.