MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tải. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.--¿- 2-2-5 ©E££E£2E22E2EE2EE2EEcEEerkrrkerree 18 4.
Mục đích, nhiệm vụ nghién CỨU. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Khung phan tich. Bố cục của luận VAM v.ececcecsessessessesssessessecsessessessussusssessessessessessussessussseeseeseeses 27 NI DƯNG. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI. Sơ lược về dia bàn và dân tộc được khảo sát.
Một sô khái niệm công CỤ. Một sô chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe và y học cổ truyền vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 52 Tiểu kết chương Ì.---¿- 2-52 s+SE+SE2EE2EE2E19EEE71E71E71711211211211 11111. THUC TRANG TRI THUC Y HỌC CO TRUYÈN.
57 TRONG CHAM SOC SUC KHOE CỘNG ĐỎNG. Hiểu biết của người dân về YHCT và thực trạng bệnh tật. Tri thức YHCT trong chân đoán bệnh và chữa bệnh. Truyền nghề và các nghỉ lễ liên quan đến chăm sóc sức khỏe.
75 Tiểu kết chương 2. GIẢI PHÁP CƠ BAN BAO TON, PHAT HUY TRI THỨC YHCT TRONG CSSK CỘNG ĐÒNG. Một sé quan điểm định hướng. Một số giải pháp cơ bản.
108 KET LUẬN VÀ KHUYEN NGHỊ .---:- 2-5 ©522S£2EE2EE9EE£EEEEEEEEEEE2112112111117111. xe 110 DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO.--cs°--ccccss IH DANH MỤC BANG Bảng 2. Hiểu biết của các dân tộc về giá trị của YHCTT. Hiểu biết của các dân tộc về số lượng cây thuốc chữa bénh.
Nguồn cung cấp thông tin về cây thuốc cho người dân. Thực trạng mắc bệnh của các dân tộc trong năm vừa qua. Phương pháp điều trị bệnh của người Thái, Dao, Mường.Thời điểm dùng cây thuốc khi 6m đau trong năm qua. Nguồn cung cấp cây thuốc dé chữa bệnh.
Các phương pháp lưu truyền cây thuốc, bai thuốc. Khó khăn, cản trở cho việc lưu truyền cây thuốc, bài thuốc. Tổng số cơ sở hành nghề YDCT tư nhân từ năm 2003-2010. Số giường tại bệnh viện và PKĐKKV ở 3 tỉnh nghiên cứu.
Số bệnh nhân khám chữa bệnh YHCT tại 3 tỉnh nghiên cứu. Số bệnh nhân điều trị nội trú YHCT tại 3 tỉnh nghiên cứu. Số bệnh nhân điều trị ngoại trú YHCT tại 3 tỉnh nghiên cứu. Tình hình sử dụng dược liệu và thuốc thành pham YHCT.
Tổ chức mạng lưới YHCT tuyến xã ở 3 tỉnh nghiên cứu. Số người hành nghề YDCT tư nhân tại địa phương. Tính cấp thiết của đề tài Tri thức cua đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là một trong những thành tổ quan trọng của văn hóa tộc người góp phan làm nên bản sắc tộc người. Nó có thể coi là tài sản của mỗi tộc người trong lịch sử phát triển, phản ánh mỗi quan hệ của từng cộng đồng đối với môi trường tự nhiên và xã hội.
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng không chỉ là vẫn đề mang tính thời sự mà còn có ý nghĩa chiến lược phát triển trong bối cảnh nước ta dang day mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tri thức của đồng bảo DTTS về y học cô truyền (YHCT) trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng không chỉ đơn thuần là những tri thức về việc sử dụng cây cỏ dé làm thức ăn nước uống hàng ngay mà nó còn là quan niệm của người dân địa phương trong việc sử dụng cây cỏ, nguồn được liệu làm thuốc phòng bệnh và chữa bệnh. Hai yếu tố này tạo thành bản sac văn hóa tộc người của moi cộng đông dân tộc. Việt Nam có một nền YHCT lâu đời và được đánh giá là có tiềm năng to lớn.
Cội nguồn của nền YHCT Việt Nam là những kinh nghiệm dân gian hình thành do kết quả đấu tranh sinh tồn giữa con người với những tác nhân gây bệnh, được lưu truyền và liên tục được bé sung bởi kinh nghiệm của các thé hệ, để ngày một hoàn thiện và khoa học hơn, góp phan đáng kê trong sự nghiệp chăm sóc vả bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Tuy nhiên từ những năm 1990, sự chuyên đổi cơ chế kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bên cạnh những cải thiện lớn mà cơ chế này mang lại cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ, đã xuất hiện nhiều khó khăn do không thích ứng được với cơ chế mới, trong đó YHCT đã bị thu hẹp đáng kể. Đề thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về YHCT, đồng thời để khắc phục những tồn tại trên, Bộ Y tế tiếp tục khăng định đường lối phát triển YHCT trong chăm sóc sức khoẻ là: "Phát triển sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc của YHCT tại cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành Y tế trong những thập kỷ tới dé bảo đảm sức khoẻ cho nhân dân"!. Gan đây Đảng, Chính phủ đã ban hành một số văn bản quan trong dé day mạnh công tác YHCT trong chăm sóc va bảo vệ sức khoẻ nhân dân đó là: Ngày 3/11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 222/2003/QD-TTg về việc phê duyệt chính sách Quốc gia về YDHCT đến năm 2010; Ngày 23/02/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 46-NQ/TW về công tác bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Chỉ thị số 05/2007/CT-BYT ngày 9/11/2007 của Bộ Y tế về tăng cường công tác y dược học cô truyện; Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban bí thư TW Đảng về phát trién nền Đông y Việt Nam và Hội Đông Y Việt Nam trong tình hình mới; Hướng dẫn số 48-HD/BTGTW ngày 12/8/2008 của Ban Tuyên giáo TW về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban bí thư TW Đảng; Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển nền y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020.
Trên thực tế, việc triển khai những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành y tế về phát triển YHCT vẫn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là ở khu vực miên núi vùng đông bào dân tộc. Việc củng cô và phát triên ' Chỉ thị 03/BYT-CT ngày 01/3/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế các biện pháp phòng và chữa bệnh bằng sử dụng các phương pháp YHCT ở khu vực miền núi vùng đồng bảo dân tộc có ý nghĩa to lớn không chỉ ở chỗ nó góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại cơ sở, mà còn tận dụng được các cây thuốc thảo dược quý trong không gian cư trú và sản xuất giúp giảm bớt chi phí khám chữa bệnh cho những người dân nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi để người dân có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Việc phát triển YHCT góp phan huy động sự đóng góp của một lực lượng đông đảo những người hành nghề YHCT, tăng tính công bằng, hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của hệ thống y tế cơ sở. Một trong những khó khăn lớn trong việc phát triển YHCT ở nước ta hiện nay là tri thức, nhất là ở đồng bào dân tộc thiểu số một mặt còn lưu giữ khá nhiều dưới dạng bắt thành văn mặt khác với tâm lý độc quyền cũng là cản trở đáng kể.
Nếu không được sưu tầm, lưu giữ dưới dang văn ban thì các tri thức quý giá đó có nguy cơ bị thất truyền. Do đó, việc nghiên cứu, bảo tồn tri thức về YHCT trong phòng bệnh và chữa bệnh ở đồng bào DTTS vừa cần thiết vừa mang tính thời sự, không chỉ góp phần bảo tồn tri thức văn hóa dân tộc mà còn thúc đây sự phối kết hợp giữa y học hiện đại (YHHD) va YHCT trong công tác y tế ở nước ta hiện nay. Dưới góc độ nghiên cứu xã hội học thì những nghiên cứu về xã hội học tộc người (Ethnic Sociology) nói chung và xã hội học về y tế tộc người nói riêng chưa nhiều. Sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này ở nước ta trở nên thiết thực hơn bao giờ hết khi đặt trong bối cảnh đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Bởi lẽ, với 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong công cuộc xây dựng đất nước nước vì mục tiêu: đân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đặc biệt trong xu thế hội nhập với thế giới như hiện nay thì “tài nguyên” con người Việt Nam cần được phát huy hơn nữa trên tất cả các phương diện trí tuệ, phẩm chất chính trị, đủ sức khoẻ nhằm tiến tới thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế — xã hội. Song song với việc sử dụng nguồn nhân lực, việc tăng cường bồi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một việc làm có ý nghĩa quyết định. Vì vậy, đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng không chỉ là mục tiêu của tô chức y thế thế giới, mà còn là mục tiêu tổng quát, mục tiêu chiên lược của từng quôc gia và là thước đo của một xã hội văn minh. Dé tài luận văn “Tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số về y học cỗ truyền trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng” được hình thành khi tác giả công tác và tham gia nghiên cứu dé tài “Những biện pháp bảo ton và phát triển Y học cổ truyền của một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh miễn núi phía Bắc Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng thuộc Viện Dân tộc học, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện.
Trong luận văn này, học viên nghiên cứu về tri thức của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng dưới góc độ xã hội học tộc người nhằm tìm hiểu quan niệm của đồng bào DTTS về bệnh tật, các cách phòng và chữa bệnh băng YHCT cũng như các nghỉ lễ trao truyền và bảo tồn các giá trị của tri thức về YHCT. Nó không chi có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn góp phần thực hiện thành công chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân theo chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu tình hình YHCT ở nước ngoài cho thấy một trong các quốc gia tiêu biểu có hệ thống YHCT phát triển cao phải kế tới là Trung Quốc, nơi có nền YHCT lâu đời và có ảnh hưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác như Hàn Quốc, Nhật Ban, An Độ và Việt Nam, v.