Thực trạng điều trị bệnh phụ khoa nội trú tại Bệnh viện Sản Nhi Hà Nam từ 2017 đến 2019

Khám phá thực trạng điều trị nội trú một số bệnh phụ khoa tại Bệnh viện Sản Nhi Hà Nam giai đoạn 2017-2019, cung cấp thông tin hữu ích cho sức khỏe phụ nữ.

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

52
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

1.1. Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD – 10)

1.2. Một số hình thái bệnh lý phụ khoa thường gặp

1.2.1. Các bệnh phụ khoa dạng u

1.2.1.1. U xơ tử cung
1.2.1.2. Khối u buồng trứng
1.2.1.3. Khối u lành tính ở đường sinh dục dưới

1.2.2. Các tổn thương lành tính khác của đường sinh dục dưới

1.2.3. Các loại viêm nhiễm đường sinh dục dưới

1.2.3.1. Lâm sàng viêm nhiễm đường sinh dục dưới
1.2.3.2. Các đường lây truyền
1.2.3.3. Các tác nhân gây bệnh đường sinh dục dưới
1.2.3.3.1. Nấm Candida
1.2.3.3.2. Trùng roi Trichomonas vaginalis
1.2.3.3.3. Neisseria gonorrhoeae
1.2.3.3.4. Viêm đường sinh dục do tạp khuẩn

1.3. Thai ngoài tử cung

1.4. Một số yếu tố liên quan đến bệnh phụ khoa

1.4.1. Yếu tố dân số, xã hội

1.4.2. Các yếu tố môi trường và tình dục

1.5. Một số kết quả nghiên cứu về tình hình mắc bệnh phụ khoa

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

2.2.3. Công cụ thu thập số liệu

2.2.4. Các biến số nghiên cứu

2.2.5. Xử lý số liệu

2.2.6. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả đặc điểm chung của các bệnh nhân mắc bệnh phụ khoa được điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản – Nhi Hà Nam từ năm 2017 đến tháng 6/2019

3.2. Đánh giá thực trạng một số bệnh phụ khoa được điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản – Nhi Hà Nam từ năm 2017 đến tháng 6/2019

3.2.1. Mô hình bệnh tật theo chương bệnh

3.2.2. Các bệnh trong từng chương bệnh

3.2.3. Mười bệnh phụ khoa phổ biến nhất

3.2.4. Thời gian và kết quả điều trị

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bệnh phụ khoa

Bệnh phụ khoa là gánh nặng bệnh tật đáng kể cho phụ nữ toàn cầu, chiếm 4,5% tổng số bệnh tật. Chúng bao gồm các bệnh lý u và viêm nhiễm, có thể diễn biến cấp tính hoặc âm thầm. Việc phát hiện và điều trị sớm rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống. Tại Việt Nam, nhận thức về bệnh phụ khoa ở nông thôn còn hạn chế, dẫn đến việc người bệnh e ngại đi khám và chỉ đến bệnh viện khi bệnh đã nặng. Điều tra mô hình bệnh tật vùng miền, đặc biệt ở nông thôn, rất cần thiết để nắm bắt tình hình bệnh phụ khoa và đưa ra giải pháp cải thiện.

1.1. Phân loại bệnh lý

Bệnh phụ khoa được phân thành các bệnh lý dạng u (u xơ tử cung, khối u buồng trứng, khối u lành tính đường sinh dục dưới) và viêm nhiễm đường sinh dục dưới (do nấm, trùng roi, vi khuẩn). Mỗi loại bệnh có những đặc điểm, triệu chứng và cách điều trị riêng.

1.2. Yếu tố liên quan

Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh phụ khoa bao gồm:

  • Yếu tố dân số, xã hội: Tuổi, chủng tộc.
  • Yếu tố môi trường và tình dục: Tuổi bắt đầu quan hệ tình dục, tiền sử sảy thai, nạo hút thai, số lần sinh con. Việc tìm hiểu các yếu tố này giúp đưa ra biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. Bệnh viện Sản Nhi Hà Nam

Bệnh viện Sản – Nhi Hà Nam là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng II, được thành lập năm 2017. Bệnh viện đang trong quá trình kiện toàn, đặc biệt là về chuyên môn. Nghiên cứu về mô hình bệnh lý phụ khoa được điều trị tại đây rất thiết thực, giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

2.1. Vai trò của nghiên cứu

Nghiên cứu "Thực trạng một số bệnh phụ khoa được điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản Nhi Hà Nam từ năm 2017 đến tháng 6/2019" sẽ cung cấp thông tin về:

  • Đặc điểm chung của bệnh nhân mắc bệnh phụ khoa.
  • Thực trạng điều trị nội trú các bệnh lý phụ khoa. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách y tế và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện.

III. Dữ liệu nghiên cứu 2017 2019

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bệnh viện từ năm 2017 đến năm 2019 để phân tích thống kê y tế về bệnh phụ khoa. Bệnh án của bệnh nhân được thu thập và phân tích theo mô hình bệnh tật dựa trên bảng phân loại ICD-10. Nghiên cứu tập trung vào 10 bệnh phụ khoa phổ biến nhất, bao gồm u xơ tử cung, viêm lộ tuyến cổ tử cung, thai ngoài tử cung...

3.1. Phân tích mô hình bệnh tật

Nghiên cứu y học phân tích tỷ lệ các bệnh phụ khoa, thời gian điều trị nội trú và kết quả điều trị cho từng nhóm bệnh. Kết quả cho thấy sức khỏe phụ nữsức khỏe sinh sản cần được quan tâm hơn, đặc biệt là ở khu vực Hà NamViệt Nam nói chung.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật Chương II: U tân sinh Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và một số rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi Chương VI: Bệnh hệ thần kinh Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn Chương X: Bệnh hệ hô hấp Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa Chương XII: Bệnh da và tổ chức dưới da Chương XIII: Bệnh hệ cơ xương khớp và mô liên kết Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục Chương XV: Mang thai, sinh đẻ và hậu sản Chương XVI: Một số bệnh khởi phát trong thời kỳ chu sinh Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác 3 Chương XIX: Vết thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong Chương XXI: Yếu tố ảnh hưởng tình trạng sức khỏe và tiếp cận với cơ quan y tế Chương XXII: Mã dành cho những mục đích đặc biệt 1. Một số hình thái bệnh lý phụ khoa thường gặp Sinh lý phụ khoa nghiên cứu tất cả những vấn đề có liên quan đến những thay đổi về tính chất sinh dục và hoạt động sinh dục của người phụ nữ, chủ yếu là những hoạt động của bộ phận sinh dục nữ [7]. Bệnh phụ khoa là tên chung để chỉ các loại tổn thương bệnh lý bộ phận sinh dục của nữ. Các bệnh phụ khoa thông thường bao gồm các bệnh có tổn thương dạng u hoặc tổn thương dạng viêm nhiễm.

Theo thống kê của Nguyễn Hữu Cốc [8] có 64,6% mắc bệnh phụ khoa, trong đó các tổn thương thực thể thường gặp nhất trong số phụ nữ bị bệnh là viêm CTC chiếm 50%, tiếp đó là lộ tuyến CTC chiếm 8,6%, viêm âm hộ 7,1 % và viêm âm đạo là 5,4%. Các bệnh lý phụ khoa dạng u Bao gồm các bệnh thuộc chương II – U tân sinh theo bảng phân loại ICD – 10. U xơ tử cung Hình 1. Các vị trí của u xơ tử cung [9] 4 U xơ tử cung là khối u lành tính ở tử cung thường hặp ở phụ nữ ở độ tuổi hoạt động sinh dục, UXTC còn được gọi là u xơ cơ tử cung hay u cơ TC vì cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung [7].

Người ta ước lượng có khoảng 20% phụ nữ ở tuổi 35 trở lên bị UXTC và thường gặp ở lứa tuổi 30-45. Sau khi mãn kinh hiếm gặp hơn [10, 11]. Hình ảnh đại thể của u xơ tử cung UXTC làm tử cung to lên và gây rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ [10, 11]. Đây chính là lý do chính làm phụ nữ phải đến bệnh viện khám chữa bệnh.

Khối u buồng trứng Đó là những khối u lành tính hay ác tính xuất phát từ các tổ chức của buồng trứng, 90% là u nang bên trong chứa dịch [10, 11]. Các u nang buồng trứng lành tính thường gặp: u nang bì, nang thanh dịch, nang nhày, nang lạc nội mạc. Các u buồng trứng ác tính hầu hết thuộc nhóm biểu mô (từ 80 – 90%) các ung thư buồng trứng. Hình ảnh u nang buồng trứng [12] Chẩn đoán khối u buồng trứng có thể rất đơn giản chỉ cần thăm khám phụ khoa thông thường hoặc cũng có thể người bệnh tình cờ phát hiện ra khi đi khám vì một lý do khác.

Hình ảnh ung thư buồng trứng [13] 1. Khối u lành tính ở đường sinh dục dưới Đó là các dạng nang, thường có kích thước nhỏ và không gây nguy hiểm cho tính mạng của người bệnh và có khi họ cũng không biết là mình có vì nó không có triệu chứng gì, đó là:  Nang tuyến Bartholin: Thường nằm ở một bện môi lớn, ở vị trí của tuyến Bartholin, di dộng dễ, không đau. Thường do viêm nhiễm mãn tính dẫn đến tắc ông bài tiết, các chất tiết ứ đọng lại thành nang, nang này có thể dễ dàng bóc tách.  Nang nước, nang nhầy thành âm đạo: 6 Đó là những nang xuất hiện ở thành âm đạo bên trong có chứa dịch nước hoặc nhầy, kích thước nhỏ và nói chung không ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ.

Chẩn đoán các khối u nang dễ dàng, chỉ cần khám lâm sàng bằng cách đặt mỏ vịt [10, 11]. Các tổn thương lành tính khác của đường sinh dục dưới  Vết trắng âm hộ: Đó là các tổn thương sừng hóa lành tính của âm hộ, chẩn đoán rất dễ dàng khi nhìn thấy da vùng âm hộ đổi màu, thường gây ngứa.  Lộ tuyến cổ tử cung (CTC): Lộ tuyến CTC là một tổn thương do xuất hiện tế bào trụ ở mặt ngoài CTC, nơi mà bình thường chỉ có tế bào lát bào phủ. Lộ tuyến CTC có thể là bẩm sinh, cũng có thể do sang chấn CTC như sau nạo, sau đẻ và cũng có thể do cường Estrogen là cho các tuyến có xu thế phát triển ra ngoài và chế tiết chất nhầy.

Triệu trứng của lộ tuyến CTC chủ yếu là ra khí hư nhiều. Chẩn đoán lộ tuyến CTC thường dễ bằng cách mở mỏ vịt và nhìn thấy CTC bị mất lớp biểu mô lát mỏng, thay thế vào đó là một vùng nhiều nụ to nhỏ, màu đỏ và nếu lấy axit acetic 3% bôi lên thì các tuyến sẽ se lại và nếu soi CTC sẽ thấy chúng tập trung thành từng đám như chum nho và làm chứng nghiệm Lugol thấy không bắt màu [10, 11]. Tiến triển của lộ tuyến CTC nói chung là tốt nếu như không viêm nhiễm, nhưng nếu có viêm nhiễm mà không được điều trị sẽ dẫn đến sự tái tạo bất thường và đó là tiến triển bất lợi và là tiền đề của các tổn thương nghi ngờ ở CTC. Cổ tử cung bình thường và viêm lộ tuyến CTC [14]  Nang nhầy CTC: Là do sự nang hóa của các tuyến chế nhầy ở dưới sâu, khi chọc thường có chất nhầy chảy ra, nói chung đây là một bệnh lành tính.

 Polyp CTC: Là những khối u nhỏ có cuống dài màu đỏ, thường mọc ra từ trong ống CTC, polip CTC cũng gây ra tình trạng tiết khí hư nhiều và kéo dài. Về nguyên tắc điều trị polip CTC là xoắn bỏ hoặc cắt bỏ khối polip. Các loại viêm nhiễm đường sinh dục dưới Là những bệnh lý nhiễm khuẩn đường sinh dục nữ, bệnh khá phổ biến 80% những người bị bệnh phụ khoa là viêm đường SD. Viêm SD có tầm quan trọng trong bệnh lý phụ khoa vì nó là nguyên nhân gây nhiều rối loạn trong đời sống và hoạt động sinh dục của người phụ nữ.

Nguyên nhân - Lây qua đường sinh dục (giao hợp với người bị bệnh lây lan qua đường tình dục). - Thủ thuật y tế. Lâm sàng viêm nhiễm đường sinh dục dưới Bệnh viêm nhiễm đường sinh dục về lâm sàng được biểu hiện bằng một hội chứng gồm 3 triệu chứng chính: ra khí hư, ra máu bất thường và đau bụng, trong đó triệu chứng ra khí hư là phổ biến nhất. Tính chất và màu sắc 8 của khí hư còn phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh song có 3 loại khí hư [15].

- Khí hư đặc, trắng: đặc trắng như bột, thường đọng lại ở túi cùng sau âm đạo, xét nghiệm thường thấy Candida. - Khí hư trong: trong, dính như lòng trắng trứng, xét nghiệm không thấy vi khuẩn và tế bào. Nó tạo nên do sự tăng tiết của các tuyến, thường do tổn thương niêm mạc tử cung, cổ tử cung gây ra. - Khí hư xanh, vàng, có bọt: khí hư loãng, đục, có màu xanh hoặc vàng thường do trùng roi hoặc tạp trùng gây ra.

Triệu chứng lâm sàng thứ 2 khá phổ biến là đau bụng, nhưng thường không điển hình, thường đau hoặc tức nặng vùng hạ vị. Ra máu âm đạo bất thường, thường sau giao hợp hoặc thăm khám phụ khoa, có thể thấy trong các viêm đường sinh dục cấp tính, hay gặp trong viêm lộ tuyến CTC. Các đường lây truyền - Lây qua đường tình dục: các tác nhân thường gặp như: nấm, trùng roi, Chlamydia. - Lây qua tiếp xúc: qua quần áo, nước sinh hoạt, thói quen vệ sinh của phụ nữ.

Thường gây do nấm, trùng roi hoặc viêm cơ quan sinh dục ngoài như âm hộ. - Lây qua dụng cụ y tế: qua các dụng cụ y tế khử khuẩn không tốt, đỡ đẻ không an toàn, nạo phá thai không an toàn, đặt dụng cụ tử cung. Các tác nhân gây bệnh đường sinh dục dưới  Nấm Candida: Nhiễm nấm candida có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và ở khắp mọi nơi trên thế giới. Theo Phan Thị Kim Anh (1994) nghiên cứu trên 305 phụ nữ đến khám tại bệnh viện phụ sản TW tỷ lệ bị nấm là 52,45% [16].

Theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh (2001) tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida là 44,9% [17].  Trùng roi Trichomonas vaginalis: 9 Trichomonas là một loại ký sinh trùng đơn bào, ở dạng hoạt động di chuyển bằng roi, gậy bênh ở đường sinh dục dưới, khá phổ biến. Ký sinh trùng roi âm đạo làm thay đổi môi trường pH âm đạo. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn khác phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm HIV và người ta cũng nhận thất có mối liên quan giữa tuổi, chu kỳ kinh nguyệt, sử dụng thuốc tránh thai hay kháng sinh đối với tình trạng nhiễm Trichomonas [17, 18].

Phan Thị Kim Anh và cộng sự (1994) tỷ lệ viêm do T. Theo Marai W (1998) tỷ lệ viêm sinh dục ở phụ nữ mang thai do T.  Neisseria gonorrhoeae: Theo Lander DV và cộng sự (2004) tỷ lệ bị viêm đường sinh dục do lậu là 11% [20].  Viêm đường sinh dục do tạp khuẩn: Theo Balaka và cộng sự (2003) khi nghiên cứu tình hình viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ có thai cho thấy có 15,49% viêm nhiễm do S.aureus và 10,9% do E.

Theo Lander DV và cộng sự (2004) khi nghiên cứu trên 598 phụ nữ có vấn đề về đường sinh dục thấy tỷ lệ viêm âm đạo do các loại khuẩn khác (S.aureus, liên cầu, trực khuẩn đường ruột. Phan Thị Kim Anh (1994) xét nghiệm 653 bệnh phẩm âm đạo thấy có 27,25% là S.coli, 14,39% là liên cầu nhóm D [21]. Thai ngoài tử cung Thai ngoài tử cung (chửa ngoài tử cung) là bệnh thuộc chương XV – Mang thai, sinh đẻ và hậu sản. Thai ngoài tử cung là trường hợp trứng được thụ tinh, làm tổ và phát triển ở ngoài buồng tử cung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Bệnh phụ khoa điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản Nhi Hà Nam (2017-2019)" cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình điều trị các bệnh phụ khoa tại Bệnh viện Sản Nhi Hà Nam trong giai đoạn 2017-2019. Tác giả đã phân tích số liệu và đưa ra những kết quả đáng chú ý về hiệu quả điều trị, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các bệnh phụ khoa mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định genotype hpv ở một số phụ nữ tới khám tại khoa sản của bệnh viện trường đại học y khoa thái nguyên", nơi nghiên cứu về virus HPV, một trong những nguyên nhân gây ra nhiều bệnh phụ khoa.

Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại bv phụ sản tp cần thơ năm 2014 2015" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sức khỏe sinh sản, đặc biệt là trong thai kỳ.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ", giúp bạn nắm bắt được mối liên hệ giữa dinh dưỡng và sức khỏe phụ nữ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến phụ nữ.