Luận văn: Đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh Hạt xơ dây thanh (2022)

Luận văn y khoa nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh hạt xơ dây thanh. Tổng hợp triệu chứng, nguyên nhân và phương pháp chẩn đoán.

Trường đại học

Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Định nghĩa và Khái niệm về Hạt Xơ Dây Thanh

Hạt xơ dây thanh là một tổn thương lành tính của dây thanh, thường xuất hiện dưới dạng các hạt nhỏ trên bề mặt dây thanh. Đây là một trong những bệnh lý phổ biến của thanh quản, đặc biệt ở những người sử dụng giọng nói nhiều. Hạt xơ dây thanh phát triển từ quá sản biểu mô và viêm mô liên kết, gây ảnh hưởng đến chất lượng giọng nói của bệnh nhân. Bệnh không có khả năng ác hóa thành ung thư, nhưng cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời để phục hồi chức năng giọng nói. Sự hiểu biết về đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh của hạt xơ dây thanh rất quan trọng trong việc đưa ra chẩn đoán chính xác và lập kế hoạch điều trị hiệu quả.

1.1. Phân loại Hạt Xơ Dây Thanh

Hạt xơ dây thanh được phân loại dựa trên vị trí, kích thước và mức độ tổn thương mô. Thông thường, hạt xơ xuất hiện ở phần sau của dây thanh, gần sụn nón. Phân loại này giúp các bác sĩ đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp nhất cho từng bệnh nhân cụ thể.

1.2. Tần Suất Mắc Bệnh

Theo các nghiên cứu lâm sàng, hạt xơ dây thanh chiếm khoảng 5-10% các bệnh lý thanh quản. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở người dùng giọng nói chuyên nghiệp như giáo viên, ca sĩ, và những người phải nói nhiều. Phụ nữ có xu hướng mắc bệnh này nhiều hơn nam giới, đặc biệt ở lứa tuổi 40-60 tuổi.

II. Đặc Điểm Lâm Sàng của Hạt Xơ Dây Thanh

Triệu chứng lâm sàng của hạt xơ dây thanh rất đa dạng và phụ thuộc vào mức độ tổn thương cũng như kích thước của hạt. Biểu hiện chính là khàn tiếng, được mô tả là tiếng nói khàm, ù ù hoặc mất tiếng. Mức độ khàn tiếng có thể từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào số lượng hạt và mức độ ảnh hưởng đến dây thanh. Bệnh nhân thường than phàn về mệt giọng sau khi nói nhiều, cảm giác khó chịu ở họng hoặc cảm giác như có cứt gà trong họng. Một số trường hợp có thể xuất hiện ho khô, đặc biệt khi phát âm hoặc hát. Các triệu chứng này thường tiến triển từ từ trong suốt thời gian dài.

2.1. Triệu Chứng Khàn Tiếng

Khàn tiếng là triệu chứng chủ yếu và phổ biến nhất ở bệnh nhân hạt xơ dây thanh. Giọng nói mất độ rõ ràng, có thể gặp khó khăn trong giao tiếp. Thời gian khàn tiếng kéo dài từ vài tuần đến vài tháng hoặc lâu hơn. Đặc biệt, mức độ khàn tiếng tương quan với số lượng và kích thước của hạt trên dây thanh.

2.2. Các Triệu Chứng Kèm Theo

Ngoài khàn tiếng, bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng như mệt giọng, cảm giác kích ứng họng, ho khô, hoặc cảm giác sặc khi nuốt. Những triệu chứng này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày, đặc biệt với những người làm việc phụ thuộc vào giọng nói như giáo viên hoặc nhân viên bán hàng.

III. Đặc Điểm Giải Phẫu Bệnh của Hạt Xơ Dây Thanh

Giải phẫu bệnh học của hạt xơ dây thanh cho thấy các đặc điểm mô học rất cụ thể. Chủ yếu là quá sản biểu mô tầng ngoài cùng của dây thanh, kèm theo viêm mô đệm cấp tính hoặc mãn tính. Mô đệm dưới biểu mô cho thấy sắp xếp các sợi collagen hỗn loạn, hình thành các hạt fibroid. Màng đáy còn nguyên vẹn nhưng có thể bị dịch chuyển. Mức độ tổn thương của lớp biểu mô dao động từ sưng phù đơn giản đến quá sản biểu mô rõ ràng. Các tổn thương viêm trong mô đệm bao gồm thâm nhập của tế bào viêm như lymphocyte, plasma cell và fibroblast hoạt động. Những đặc điểm này rất quan trọng để phân biệt hạt xơ dây thanh với các bệnh lý khác của dây thanh.

3.1. Tổn Thương của Lớp Biểu Mô

Lớp biểu mô dây thanh trong hạt xơ dây thanh thường cho thấy dấu hiệu quá sản biểu mô rõ rệt. Các tế bào biểu mô tăng số lượng, xếp chồng lên nhau tạo thành các gai nhô lên. Biểu mô vẫn giữ tính chất không sừng hóa bình thường, không có dấu hiệu xấu tính.

3.2. Tổn Thương của Mô Đệm và Viêm

Mô đệm dưới biểu mô cho thấy viêm mãn tính với sắp xếp sợi collagen hỗn loạn. Thâm nhập viêm gồm lymphocyte, plasma cell và fibroblast. Mô tăng sinh sợi được hình thành tạo nên hạt xơ. Màng đáy thường nguyên vẹn nhưng có dịch chuyển do tổn thương.

IV. Yếu Tố Nguy Cơ và Chẩn Đoán

Yếu tố nguy cơ chính của hạt xơ dây thanh liên quan mật thiết đến cách sử dụng giọng nói và thói quen sinh hoạt. Những người sử dụng giọng nói nhiều như giáo viên, ca sĩ, hay người bán hàng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Hút thuốc lá, uống rượu bia, và suy giảm acid dạ dày cũng được xác định là yếu tố nguy cơ quan trọng. Việc sử dụng giọng nói không đúng cách, nói quá to hoặc kéo dài giọng có thể gây tổn thương dây thanh. Chẩn đoán hạt xơ dây thanh chủ yếu dựa vào nội soi thanh quản, nơi có thể quan sát trực tiếp các hạt nhỏ trên bề mặt dây thanh. Mô bệnh học qua sinh thiết xác nhận chẩn đoán và loại trừ bệnh lý ác tính.

4.1. Yếu Tố Nguy Cơ Chính

Yếu tố nguy cơ bao gồm sử dụng giọng nói quá mức, hút thuốc lá, uống rượu, suy giảm acid dạ dày (GERD), và kích ứng khí dung. Bệnh nhân nữ và tuổi tác 40-60 có xu hướng mắc bệnh nhiều hơn. Sử dụng giọng nói không đúng cách là nguyên nhân chính gây tổn thương dây thanh.

4.2. Phương Pháp Chẩn Đoán

Nội soi thanh quản là phương pháp chính để chẩn đoán hạt xơ dây thanh. Quan sát trực tiếp các hạt nhỏ, nhấn, có màu đỏ hoặc bình thường trên bề mặt dây thanh. Mô bệnh học qua sinh thiết xác nhận chẩn đoán và loại trừ ung thư hoặc bệnh lý khác.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hạt xơ dây thanh (HXDT) là tổn thƣơng lành tính tại vị trí tiếp nối giữa 1/3 trƣớc và 2/3 sau của bờ tự do, hình tròn hoặc nhọn, có tính chất đối xứng hai bên [1], [2]. HXDT có thể gặp ở mọi giới, cả ngƣời lớn và trẻ em, nhƣng hay gặp ở giới nữ và những ngƣời lạm dụng giọng nói nhiều nhƣ: giáo viên, ca sĩ, kinh doanh, bán hàng [2]. Ngoài ra các yếu tố viêm nhiễm ở mũi họng nhƣ: viêm mũi xoang mạn tính, viêm họng mạn tính [3] hay tiền sử mắc hội chứng trào ngƣợc dạ dày – thực quản, dị ứng [4], [5] cũng đóng góp vai trò trong việc hình thành HXDT. Đây là một trong những bệnh lý thanh quản hay gặp và tỷ lệ mắc khá cao.

Theo thống kê của Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ƣơng mỗi năm có khoảng 1000 ca đến khám và điều trị [6]. document, khoa luan13 of 98. tai lieu, luan van14 of 98. Ảnh hƣởng chất lƣợng giọng nói là triệu chứng chính của HXDT.

Bệnh biểu hiện: khàn tiếng, rối loạn âm sắc, có thể dẫn đến mất tiếng [7], [8]. Những triệu chứng này không chỉ gây khó khăn trong giao tiếp mà còn ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh. Hiện nay, việc chẩn đoán HXDT thƣờng dựa vào lâm sàng và các phƣơng pháp chẩn đoán hình ảnh nhƣ: nội soi thanh quản ống cứng gắn optic, nội soi hoạt nghiệm thanh quản. Các phƣơng pháp này giúp bác sĩ đánh giá đƣợc vị trí tổn thƣơng, hình thái đại thể, hoạt động chức năng của dây thanh.

Tuy nhiên, kết quả giải phẫu bệnh mới là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định HXDT. Nhằm góp phần bổ sung kiến thức về HXDT, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh hạt xơ dây thanh” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của hạt xơ dây thanh. Mô tả đặc điểm giải phẫu bệnh của hạt xơ dây thanh.

CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Hạt xơ dây thanh (HXDT) là tổn thƣơng lành tính ở dây thanh, đƣợc mô tả lần đầu tiên bởi Tuker (1868) và sau đó đƣợc nhiều tác giả của nhiều nƣớc nghiên cứu nhƣ: Ch. Jackson, Tarneaud, Mayoux, Giraad, Feankel,….

Những năm gần đây, một số tác giả tiêu biểu nhƣ: Hirano, Bouchayer, Mosallam… đã đi sâu vào nghiên cứu HXDT trên cơ sở những hiểu biết mới về cấu trúc mô học của dây thanh, sinh lý phát âm, cơ chế bệnh sinh của HXDT kết hợp với các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại. 2 document, khoa luan14 of 98. tai lieu, luan van15 of 98. nghiên cứu tỷ lệ khàn giọng mạn tính ở trẻ em lứa tuổi đi học [9].

Năm 1991, Gray nghiên cứu mô bệnh học của bệnh nhân bị HXDT kéo dài trên 6 tháng, không đáp ứng với điều trị bảo tồn [10]. Năm 2010, Martins nghiên cứu hình thái học và hoá mô miễn dịch HXDT [11]. Năm 2013, Nunes nghiên cứu về chẩn đoán lâm sàng và phân tích mô bệnh học HXDT và polyp dây thanh [12]. Việt Nam Năm 2000, Nguyễn Giang Long thấy rằng tổn thƣơng mô bệnh học của HXDT là quá sản biểu mô vảy và tăng sinh xơ tại khu vực màng đáy [13].

Năm 2003, Nguyễn Duy Dƣơng nghiên cứu ảnh hƣởng của một số bệnh thanh quản trong đó có HXDT và thấy rằng bệnh lý này làm thay đổi tần số cơ bản của một số thanh điệu tiếng Việt [14]. Năm 2009, Vũ Toàn Thắng nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học một số u lành tính của dây thanh [15]. Sơ lƣợc giải phẫu và sinh lý thanh quản 1. Giải phẫu thanh quản Cấu tạo của thanh quản gồm các mảnh sụn liên kết với nhau bởi các khớp, dây chằng và màng, đƣợc vận động bởi một số cơ thanh quản [16].

Các sụn thanh quản Sụn thanh quản tạo nên hình dạng của thanh quản và điều tiết hoạt động của dây thanh. Thanh quản gồm năm sụn chính [6]: - Sụn nhẫn: giống nhƣ hình chiếc nhẫn quay mặt về sau. - Sụn giáp: giống nhƣ hình quyển sách mở dựng đứng, gáy nhìn về phía trƣớc. 3 document, khoa luan15 of 98.

tai lieu, luan van16 of 98. - Hai sụn phễu: hình tam giác, giống nhƣ cái kim tự tháp đặt trên sụn nhẫn. Trên mỗi sụn phễu còn có các sụn con phụ mang tên là sụn sừng và sụn chêm. Sụn thanh thiệt: là sụn đơn hình chiếc lá mà cuống lá dính vào góc giữa hai màng sụn giáp.

Sụn thanh quản[16]. Tất cả sụn này (trừ sụn phễu) đều đƣợc củng cố thêm bằng một lớp xơ đàn hồi, dính chặt vào màng sụn. Các cơ thanh quản Các cơ thanh quản bám, bao bọc ở mặt ngoài và mặt trong khung sụn thanh quản. Thanh quản gồm có chín cơ và đƣợc xếp ra làm ba loại: cơ căng, cơ mở và cơ khép [6].

a) Cơ căng Cơ nhẫn giáp kéo sụn giáp về phía trƣớc và phía dƣới, làm cho dây thanh bị kéo căng về phía trƣớc. Mỗi bên thanh quản có một cơ nhẫn giáp. b) Cơ mở Cơ nhẫn phễu sau đi từ mặt sau cảu sụn nhẫn đến mấu cơ của sụn phễu. 4 document, khoa luan16 of 98.

tai lieu, luan van17 of 98. Tác động: quay sụn phễu ra phía ngoài xung quanh trục đứng thẳng, làm cho hai mấu xa nhau và thanh môn mở ra. Mỗi bên thanh quản có một cơ nhẫn phễu sau. c) Cơ khép - Cơ nhẫn phễu bên: Cơ nhẫn phễu bên đi bờ trên và trƣớc của sụn nhẫn đến mấu cơ của sụn phễu.

Tác động: kéo mấu cơ về phía trƣớc, làm cho sụn phễu quay về phía trong xung quanh trục thẳng đứng. Mấu thanh hai bên khít lại gần và thanh môn đóng lại. Mỗi bên thanh quản có một cơ nhẫn phễu hai bên. - Cơ giáp phễu: Cơ này gồm hai phần, cơ giáp phễu trên và cơ giáp phễu dƣới.

Tác động: cơ giáp phễu dƣới làm hẹp thanh môn, làm chùng dây thanh. Cơ này còn đảm bảo sự rung động của dây thanh bằng những thớ phễu thanh và giáp thanh. Mỗi bên thanh quản có một cơ giáp phễu. - Cơ liên phễu: Nối liền sụn phễu bên phải với sụn phễu bên trái.

Tác dụng: Kéo hai sụn phễu lại gần nhau làm cho đoạn sau của thanh môn khít lại. 5 document, khoa luan17 of 98. tai lieu, luan van18 of 98. Phẫu tích mặt bên các cơ thanh quản [17].

Phân bố mạch máu thanh quản Hai mạch máu chính của thanh quản là động mạch thanh quản trên và động mạch thanh quản dƣới. Ngoài ra còn có động mạch thanh quản sau [6]. Thần kinh chi phối thanh quản Phân bố thần kinh của thanh quản gồm hai nhánh của dây thần kinh X hay dây phế vị: dây thần kinh trên và dây thần kinh hồi quy hay dây thần kinh quặt ngƣợc. Cả hai dây thần kinh này đều có các nhánh vận động và cảm giác.

Dây thần kinh thanh quản trên: xuất phát từ cực dƣới của hạch hình đám rối, phân thành hai nhánh ngoài và trong. Nhánh ngoài gồm các sợi chi phối vận động cơ giáp nhẫn, nhanh trong gồm các sợi chi phối cảm giác cho toàn bộ thanh quản. Dây thần kinh hồi quy (thần kinh quặt ngƣợc): chi phối vận động cho tất cả các cơ còn lại của thanh quản (trừ cơ giáp nhẫn) và chi phối cảm giác cho vùng niêm mạc thanh quản nằm phía dƣới hai dây thanh. Ngoài ra dây thần kinh này còn chi phối cảm giác cho thực quản, khí quản, hạ họng [6].

Niêm mạc Lòng của thanh quản đƣợc che phủ bởi một lớp biểu mô trụ (ở những vùng rộng nhƣ tiền đình) và biểu mô lát (ở vùng hẹp nhƣ dây thanh). 6 document, khoa luan18 of 98. tai lieu, luan van19 of 98. Trong niêm mạc có tuyến nhày và nang lympho.

Lớp dƣới niêm mạc lỏng lẻo, do đó thanh quản dễ bị phù nề [6]. Giải phẫu dây thanh 1. Đại thể Hình 1. Nếp thanh thất 7.

Nếp phễu – thanh thiệt 8. Khuyết gian phễu 4. Sụn thanh thiệt Dây thanh là một cấu trúc hình nẹp nằm ở tầng thanh môn của thanh quản gồm có niêm mạc, sợi đàn hồi và cơ đi từ trƣớc (góc sụn giáp) ra sau (sụn phễu). Dây thanh là một bộ phận di động có thể khép mở hoặc rung động.

Kích thƣớc: - Phụ nữ : 1,6 – 2,0 cm - Nam giới : 2,0 – 2,4 cm Màu sắc trắng ngà, nhẵn bóng. Dây thanh nằm trong tầng thanh môn của ống thanh quản trên một bình diện ngang chạy từ trƣớc ra sau. Trên dây thanh là băng thanh thất. Giữa băng thanh thất và dây thanh có buồng Morgani.

Trên dây thanh là thƣợng thanh môn, dƣới là hạ thanh môn [1], [20]. 7 document, khoa luan19 of 98. tai lieu, luan van20 of 98. Vi thể Dây thanh âm có cấu trúc vi thể phức tạp (hình 1.

Nó cho phép lớp biểu mô mềm mại ở nông dễ dàng rung động tự do ngay cả khi dƣới nó là một tổ chức niêm mạc cứng chắc hơn. Về mô học từ nông đến sâu, cấu trúc dây thanh gồm ba lớp [21], [22]: - Lớp biểu mô: + Là lớp ngoài cùng của dây thanh. Mặt trên và mặt dƣới giống biểu mô đƣờng hô hấp. + Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển và các tế bào hình đài tiết nhầy.

+ Bờ tự do của dây thanh là biểu mô vảy lát tầng không sừng hóa, đƣợc ngăn cách với biểu mô đƣờng hô hấp bằng một vùng niêm mạc chuyển tiếp, mỏng ở 1/3 trƣớc, dày ở 2/3 sau, có vai trò giúp dây thanh rung động dễ dàng [23]. + Lớp biểu mô vảy giúp duy trì hình dạng dây thanh, bảo vệ các mô nằm phía dƣới đặc biệt là điều hoà nƣớc cho dây thanh. - Lớp tổ chức dưới niêm mạc hay màng đáy: Gồm: Khoang Reinke, lớp giữa và lớp sâu. + Lớp mô đệm nông còn gọi là khoảng Reinke: Nằm ngay dƣới lớp biểu mô, ít mạch, chứa Gelatin (bản chất là các chất chun) nên lớp này có vai trò nhƣ lớp đệm mềm dẻo và linh hoạt.

Nó có vai trò quan trọng trong chức năng rung và đàn hồi của dây thanh [24], [25]. Nếu do nguyên nhân nào đó nhƣ: viêm nhiễm, khối u,… gây xơ cứng lớp nông sẽ gây ra những biến đổi về giọng nói. + Lớp giữa: Nằm dƣới lớp nông, chủ yếu là sợi chun dày 0,5 - 1,5 mm. + Lớp sâu: Là thành phần chính của dây chằng thanh âm.

Chủ yếu là sợi collagen đƣợc sắp xếp sát nhau và xoắn vặn thành bó song song với bờ của cơ thanh âm. Dây chằng thanh âm bao gồm: lớp giữa và lớp sâu của lamina propria cấu tạo bởi sợi chun và collagen [24]. 8 document, khoa luan20 of 98. tai lieu, luan van21 of 98.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ