Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành y 1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp ngành y Với tính nhân đạo sâu sắc, nghề y mạng đậm dấu ấn của đạo đức.
Trong suốt chiều dài lịch sử, nghề y luôn là sự hội tụ hài hòa của những giá trị y lý, y thuật và y đạo, trong đó y đạo người thầy thuốc được coi là cốt lõi. Ở phương Đông, ĐĐNN ngành y có nguồn gốc từ quan niệm cái đức của người thầy thuốc phải rộng như biển cả. Nếu có cầu xin là cầu xin tất cả những gì có thể cứu được bệnh nhân từ nước, lửa, cây cỏ. Cùng với phương Đông, ở phương Tây thời kỳ cổ đại cũng có nền y học tương đối phát triển.
Không ít danh y đã để lại cho đời sau những bài học vô cùng bổ ích cả về y thuật lẫn ĐĐNN. Thomas Sydenhan (1624 - 1689), vị bác sĩ tài năng người Anh, cha đẻ của ngành y học lâm sàng và dịch tễ học, sách Phương pháp điều trị tốt, ông cho rằng: “Thầy thuốc là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng” [35, tr. Theo ông, người thầy thuốc phải phục vụ tận tâm và tạo điều kiện cho người bệnh lạc quan tin tưởng khi chữa bệnh. Đầu thế kỷ XIX những vấn đề về ĐĐNN ngành y đã được nghiên cứu trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ Y khoa Trường Đại học Tổng hợp Moscow.
Nhà nội khoa lâm sàng lớn nhất ở nửa đầu thế kỷ XIX, M. Lamucdrop giảng dạy rằng: “Thầy thuốc phải khiêm tốn và thận trọng, đối với bệnh nhân phải thương yêu” [35, tr.52], ông đã nhiều lần nói rằng: “Trong nghệ thuật Y học không thể có những thầy thuốc làm xong công tác khoa học” [35, tr. Tatsuo Kuroyanagi (2014), “Nghiên cứu và đánh giá sự biến đổi lịch sử của y đức - những thách thức của hội Y học thế giới” [56], tác giả đã chỉ ra sự 15 biến đổi lịch sử của ĐĐNN ngành y từ thời kỳ đầu của Hội Y học Thế giới. Từ tuyên ngôn Geneva cho đến công ước quốc tế về ĐĐNN ngành y đã chỉ ra nghĩa vụ chung của người thầy thuốc trong các mối quan hệ với bệnh nhân và đồng nghiệp.
Bài báo làm rõ việc chấp nhận các quan điểm ĐĐNN ngành y lẫn nhau của các khu vực, nhất là ở các khu vực có nền văn hóa và cách suy nghĩ khác so với các nước phát triển phương Tây. Chính vì thế, bài báo đi vào phân tích các quan điểm khác nhau đó và rút ra kết luận rằng dù thế nào thì sức khỏe của người bệnh vẫn là mối quan tâm hàng đầu. Cùng với sự phát triển của ĐĐNN ngành y trên thế giới, đối với Việt Nam, giá trị nhân văn Việt Nam luôn là cơ sở hình thành, nuôi dưỡng và phát triển ĐĐNN ngành y. Với lòng nhân ái cao cả “Thương người như thể thương thân” nhân dân ta rất quý trọng nghề y và tôn vinh những người thầy thuốc hết lòng vì người bệnh mà các bậc danh y như Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh, thế kỷ XIV), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) đều hết sức chú trọng xây dựng và truyền đạt ĐĐNN ngành y tới người thầy thuốc.
Vào thế kỷ XIX, nhà thơ, đồng thời là người thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu (1812 - 1888) cũng là người rất đề cao ĐĐNN của người thầy thuốc. Bàn về lương tâm, bổn phận của người thầy thuốc, tác phẩm Ngư Tiều vấn đáp y thuật [10], ông đã đã khái quát một cách cô đọng về ĐĐNN của người thầy thuốc như sau: “Xưa rằng: thầy thuốc học thông Thề theo trời đất một lòng hiếu sinh Giúp đời chẳng vụ tiếng danh Chẳng màng của lợi, chẳng ganh ghẻ tài,”… … “Thấy người đau, giống mình đau Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành Ăn mày cũng đứa trời sinh Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không” [10, tr. Kế thừa truyền thống ĐĐNN ngành y của ông cha ta, tiếp thu tinh hoa ĐĐNN ngành y nhân loại, trên cương vị là lãnh tụ của dân tộc và một nhà văn hóa, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc trau dồi và rèn luyện ĐĐNN của 16 người làm nghề y. Hồ Chí Minh là một trong số ít những lãnh tụ cách mạng bàn nhiều nhất về ĐĐNN ngành y thông qua nhiều lần gửi thư, trực tiếp gặp, thăm các cơ sở y tế để bày tỏ quan điểm của Đảng và Chính phủ về phẩm chất người thầy thuốc.
Hầu như mỗi lần có dịp tiếp xúc với ngành y điều đầu tiên Hồ Chí Minh nhắc tới vẫn là “thầy thuốc như mẹ hiền”. Đây chính là yêu cầu Hồ Chí Minh đặt ra trong phương châm xử thế, phương châm hành động và phục vụ của cán bộ và nhân viên ngành y đối với người bệnh. Hồ Chí Minh căn dặn thầy thuốc và nhân viên phục vụ cần coi trọng chăm sóc cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. Thư gửi Hội nghị quân y (3/1948), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 [68], Người viết: “Người làm thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần của người ốm yếu”.
“Người ta có câu “Lương y kiêm từ mẫu” nghĩa là một người thầy thuốc phải là một người mẹ hiền” [68, tr. Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8 [69], Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ y tế cần phải “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt”. “Cần phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân”. “Lương y phải kiêm từ mẫu” [69, tr.
Tác giả Ngô Gia Hy (1995), sách Nguồn gốc của y đức: Sự đóng góp của nền y học vào văn hóa Việt Nam [53], tác giả đã làm rõ y đức trong điều kiện KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với những nảy sinh mới ở Việt Nam, đồng thời đã luận chứng cho sự cần thiết phải nâng cao ĐĐNN ngành y trong điều kiện hiện nay. Dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch sử và quan niệm về ĐĐNN ngành y của các trường phái y học khác nhau, hay của nhiều quốc gia, tác giả cho rằng: từ cổ chí kim, dù ở nền văn minh nào, qua các lời thề và di huấn, ĐĐNN ngành y cũng có những tính chất chung, nên các thầy thuốc ở bất cứ đâu đều có mối quan hệ về bổn phận, lương tâm và trách nhiệm như nhau. Lê Hữu Trác (1997), sách Hải thượng y tông tâm lĩnh, tập 2 [94], luôn tự nhắc nhở người thầy thuốc cần “tiến đức, tu nghiệp”. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện cho toàn diện, toàn mĩ về ĐĐNN ngành y.
Tu nghiệp là hàng 17 ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng tinh thông. Đối với ông, đạo làm thuốc không chỉ bó hẹp trong phạm vi chuyên môn nghề nghiệp mà còn bao hàm cả ĐĐNN; nghĩa là y thuật phải gắn liền với ĐĐNN, thấm nhuần lòng thương người, thương dân. Ông viết: Suy nghĩ thật sâu xa tôi hiểu rằng, thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, họa phúc một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh đòi làm cái nghề cao quý đó chăng [94, tr.
Lê Hữu Trác luôn nhận thức rằng người thầy thuốc phải biết giữ phẩm chất của mình, bản thân không được vụ lợi. Trong Y huấn cách ngôn, ông viết: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người. Phải lo cái lo của người, vui cái vui của người. Chỉ lấy việc cứu mạng sống cho con người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công” [94, tr.
Chính vì vậy mà ông luôn tự đặt cho mình các mục tiêu phấn đấu để trở thành người thầy thuốc giỏi. Các tác giả Quý Long, Kim Thư (2013), sách Những bậc thầy nổi danh về y đức [60], đã đánh giá chính xác vai trò, địa vị của người thầy thuốc từ góc nhìn văn hóa. Các tác giả đã đưa ra và làm rõ quan niệm về ngành y, về ĐĐNN của người thầy thuốc. Đặc biệt, các tác giả dưới góc nhìn từ truyền thống - suy ngẫm về y đức hiện nay.
Trên cơ sở khái quát tư tưởng các thầy thuốc nổi danh về ĐĐNN ngành y cổ kim, đông tây, các tác giả đã cho thấy, sự tương đồng, sự thống nhất trong cách nhìn nhận của họ về thiên chức và trách nhiệm, bổn phận ĐĐNN ngành y, về sự cần thiết phải bồi dưỡng, nâng cao ĐĐNN cho những người làm nghề trị bệnh cứu người. Vì vậy, các tác giả khẳng định: “Y thuật phải được gắn liền với y đạo vì người thầy thuốc có trình độ chuyên môn giỏi chưa đủ mà cần phải có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp” [60, tr. Tác giả Lê Thị Lý (2016), Đạo đức người thầy thuốc xưa và nay [63]. Nội dung cuốn sách đã chỉ rõ, so với các nghề nghiệp khác, nghề y có một số đặc trưng cơ bản, những đặc trưng này phản ánh khá rõ nét những yêu cầu về đạo 18 đức của người thầy thuốc.
Thầy thuốc phải làm dịu đi những lo lắng về bệnh tật, lạc quan và hy vọng vào cuộc sống, tin tưởng vào y học. Tác giả nhấn mạnh: “Thầy thuốc phải tránh được những thói quen không tốt về tâm lý như sự dạn dày với đau khổ, bệnh tật, chết chóc, thái độ bình thản, lãnh đạm với nỗi đau của người bệnh và thân nhân của họ, không lạm dụng địa vị và sự tôn kính của bệnh nhân làm những việc trái với đạo đức thông thường, tổn hại đến danh dự của người bệnh” [63, tr. Với ý nghĩa đó, cuốn sách là tài liệu quý đối với đội ngũ y, bác sĩ, những người công tác trong ngành y… và tất cả những ai quan tâm đến sự phát triển của ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Nguyễn Thị Bích Thủy (2016), sách Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức [73], đã chỉ ra rằng ĐĐNN ngành y chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nhân văn, của triết lý đạo đức mà mỗi quốc gia, dân tộc đã hình thành nên trong quá trình lịch sử của mình.
Các tác giả cho rằng: “Tư tưởng nhân văn và triết lý y đức gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, với quá trình lao động sản xuất, cải tạo xã hội và phát triển khoa học” [73, tr.