Đánh giá kết quả tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé cho bệnh nhân MRKH

Tổng hợp kết quả ban đầu phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé. Nghiên cứu trên bệnh nhân nữ mắc hội chứng Mayer-Rokitansky.

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2022

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Hội chứng Mayer Rokitansky Kuster Hauser

Hội chứng MRKH là một dị tật bẩm sinh hiếm gặp được đặc trưng bởi sự bất toàn hoặc vắng mặt của tử cung và âm đạo trong khi các cấu trúc sinh dục khác phát triển bình thường. Bệnh này xuất phát từ sự phát triển không hoàn chỉnh của các ống Müller và ảnh hưởng đến khoảng 1 trong 4.500 phụ nữ. Các bệnh nhân thường gặp phải những thách thức về chức năng sinh sản, tình dục và tâm lý. Tạo hình âm đạo là một trong những giải pháp điều trị quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nghiên cứu này tập trung vào phương pháp ghép mô môi bé như một kỹ thuật hiệu quả và tối ưu trong việc tái tạo khoang âm đạo chức năng cho những phụ nữ mắc hội chứng này.

1.1. Định nghĩa và Đặc điểm lâm sàng

Hội chứng MRKH là tình trạng thiếu hụt tử cung và hai phần ba trên của âm đạo mặc dù buồng trứng, hormone sinh dục và đặc điểm ngoài sinh dục phát triển bình thường. Bệnh nhân thường có chu kỳ kinh nguyệt bất thường, gặp khó khăn trong quan hệ tình dụcvô sinh. Chẩn đoán dựa vào hình ảnh MRI, siêu âmxét nghiệm nội tiết.

1.2. Tầm quan trọng của Phẫu thuật Tạo hình

Phẫu thuật tạo hình âm đạo giúp bệnh nhân khôi phục chức năng sinh dục và tình dục bình thường. Mảnh ghép môi bé âm hộ là một phương pháp hiện đại, có khả năng tái tạo mô tự nhiên, giàu máu và thần kinh. Phương pháp này mang lại kết quả thẩm mỹ tốt, ít biến chứng và giúp bệnh nhân có cuộc sống chất lượng cao.

II. Kỹ thuật Tạo hình Âm đạo bằng Mảnh ghép Môi bé

Phương pháp ghép mô môi bé là kỹ thuật tiên tiến trong tái tạo âm đạo được áp dụng để điều trị hội chứng MRKH. Kỹ thuật này lấy mô từ môi bé âm hộ của bệnh nhân, tạo vạt có dạng móng ngựa hoặc đơn thuần để xây dựng khoang âm đạo mới. Mảnh ghép tự thân này giữ được cấp máu, thần kinhtính đàn hồi tự nhiên tốt hơn so với các vạt khác. Quá trình tạo hình bao gồm các bước chuẩn bị vạt, lồng vạt vào khuôn nongcố định để tạo độ sâu thích hợp cho âm đạo.

2.1. Quy trình Phẫu thuật Chi tiết

Đầu tiên, bác sĩ cắt bỏ niêm mạc hoại tử tại vị trí tạo hình âm đạo. Tiếp đó, mảnh ghép môi bé được tạo hình thành vạt và đặt vào khuôn nong đặc biệt. Sau phẫu thuật, bệnh nhân phải nong âm đạo định kỳ (3-4 lần/ngày) trong 3-6 tháng để duy trì độ sâu và rộng của khoang âm đạo.

2.2. Ưu điểm của Phương pháp

Mảnh ghép tự thâncấp máu tốt, ít biến chứng như loét, chảy máu. Mô nội tiết nhầy dịch tự nhiên, không cần bôi trơn sau khi liền. Bệnh nhân sẽ có cảm giác tình dục đầy đủ do thần kinh được bảo tồn.

III. Kết quả Bước đầu và Đánh giá sau Phẫu thuật

Nghiên cứu tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé cho bệnh nhân hội chứng MRKH đã cho thấy những kết quả khích lệ ngay từ các tháng đầu. Các bệnh nhân ghi nhận liền thương tốt, không có nhiễm khuẩnkhoang âm đạo đạt kích thước phù hợp sau 3 tháng nong âm đạo định kỳ. Chỉ số hàm lượng tình dục nữ (FSFI) của bệnh nhân tăng đáng kể sau phẫu thuật. Độ hài lòng của bệnh nhân đạt trên 80% trong các đánh giá sơ bộ. Tuy nhiên, cần theo dõi dài hạn để đánh giá độ bền vững của khoang âm đạochất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

3.1. Đánh giá Liền thương và Biến chứng Sớm

Liền thương môi bé được đánh giá tốt ở hầu hết bệnh nhân sau 2-3 tuần. Khoang âm đạo hình thành bình thường, không có chảy máu hoặc loét đáng kể. Chỉ một số ít bệnh nhân gặp viêm nhẹ tại vị trí khuôn nong, nhưng giải quyết bằng vệ sinh tốt.

3.2. Chỉ số Chức năng Tình dục và Hài lòng Bệnh nhân

Bệnh nhân có chỉ số FSFI tăng từ 0 lên trên 20 sau 6 tháng. Khả năng quan hệ tình dục bình thường được phục hồi, giúp bệnh nhân cảm thấy tự tin hơn. Tâm lý của bệnh nhân cải thiện rõ rệt, hài lòng với kết quả thẩm mỹ.

IV. Kết luận và Hướng phát triển trong Tương lai

Phương pháp tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé đã chứng minh là một giải pháp hiệu quả trong điều trị hội chứng MRKH, mang lại kết quả bước đầu rất khích lệ. Kỹ thuật này an toàn, ít biến chứnggiúp bệnh nhân phục hồi chức năng sinh dục một cách tự nhiên. Tuy nhiên, nghiên cứu dài hạn cần được tiếp tục để đánh giá độ ổn định của khoang âm đạo trong 10-20 năm. Việc cải thiện kỹ thuật, đào tạo nhân viên y tếnâng cao nhận thức cộng đồng sẽ giúp nhiều bệnh nhân tiếp cận phương pháp điều trị tốt nhất này, nâng cao chất lượng cuộc sốnghạnh phúc gia đình của những phụ nữ mắc hội chứng MRKH.

4.1. Những Thành tựu Chính

Phương pháp tạo hình này mang lại thành công cao với 97% bệnh nhân đạt khoang âm đạo chức năng tốt. Biến chứng rất ít, hầu hết liền thương trong vòng 2-3 tuần. Bệnh nhân có cảm giác bình thường, khả năng sinh dục được phục hồi hoàn toàn.

4.2. Định hướng Nghiên cứu Tiếp theo

Cần theo dõi bệnh nhân 5-10 năm để đánh giá sự thoái giảm của khoang âm đạo. So sánh với các phương pháp khác để tìm ra kỹ thuật tối ưu nhất. Phát triển công nghệ in 3D để thiết kế khuôn nong cá nhân hóa, tăng hiệu quảthoải mái cho bệnh nhân.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – Hauser (MRKH) là một dị tật bẩm sinh được đặc trưng bởi sự bất toàn của các cấu trúc xuất phát từ củ Muller dẫn đến việc bệnh nhân không thể quan hệ tình dục đường âm đạo cũng như không thể mang thai. Nguyên nhân gây hội chứng MRKH vẫn chưa thực sự rõ ràng. Cứ khoảng 5000 phụ nữ thì sẽ có 1 người mắc hội chứng MRKH [5]. Trên thế giới, ca bệnh đầu tiên được mô tả bởi Realdus Columbus năm 1572 và đến năm 1817 ca bệnh đầu tiên được điều trị bởi Dupuytren.

Hiện nay, điều trị hội chứng MRKH đã có nhiều sự lựa chọn bao gồm phương pháp không phẫu thuật và phương pháp phẫu thuật. Trong số các phương pháp phẫu thuật điều trị tật không âm đạo, kĩ thuật của Abbe´– McIndoe là phổ biến nhất. Cả kỹ thuật nguyên bản và kĩ thuật sửa đổi đều có nguyên lý chung là tạo ra khoang âm đạo mới tại ngách bàng quang-trực tràng, sau đó lót khoang bằng vật liệu ghép phù hợp [37]. Trong kỹ thuật này, có nhiều vật liệu đã được lựa chọn để che phủ khoang âm đạo mới như vạt da, màng ối, đoạn ruột, niêm mạc miệng, mô âm đạo nuôi cấy in vitro và một số vật liệu sinh học nhân tạo khác như vật liệu cellulose oxy hóa hay hạ bì da nhân tạo [47].

Tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, phẫu thuật tạo hình âm đạo cho bệnh nhân mắc hội chứng MRKH vẫn còn là một lĩnh vực rất mới. Tạo hình âm đạo tại Việt Nam lần đầu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 1976 bằng cách sử dụng phương pháp ghép mảnh da tự thân cho kết quả khá tốt. Về sau những nghiên cứu đầu tiên trong nước đánh giá kết quả tạo hình âm đạo lần lượt được công bố bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng năm 2009 sử dụng vạt thẹn, nghiên cứu của GS.TS Trần Thiết Sơn năm 2012 sử dụng niêm mạc miệng tự thân và Nguyễn Thị Thu Trang tiếp tục nghiên cứu về niêm mạc miệng tự thân trong tạo hình âm đạo năm 2016. Nhìn chung, mỗi phương pháp đều không tránh khỏi những biến chứng.

Với các vạt da cuống liền mà phổ biến là vạt thẹn có nguy cơ mọc lông, để lại sẹo lồi, sẹo co kéo, sẹo dễ thấy nơi cho gây mất thẩm mĩ. Niêm mạc miệng là vật liệu tương đồng với biểu mô khoang âm đạo nhưng hạn chế là số lượng lấy được không nhiều và vẫn có nguy cơ tổn thương khoang miệng, tuyến nước bọt và các cấu trúc khoang miệng. Như vậy, mặc dù có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề tạo hình âm đạo nhưng vẫn chưa có kết luận nào về phương pháp và vật liệu tối ưu nhất do mỗi vật liệu đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. 1 document, khoa luan8 of 98.

tai lieu, luan van9 of 98. Tại khoa Phẫu Thuật tạo hình thẩm mĩ và hàm mặt, Bệnh viện E Hà Nội, dựa trên những kinh nghiệm và hiểu biết đã có, chúng tôi mong muốn tìm ra một vật liệu lót khoang âm đạo mới khắc phục được những nhược điểm của các vật liệu đã được sử dụng phổ biến trước đó. Môi bé âm hộ có đặc điểm mô học tương đối giống với niêm mạc âm đạo bình thường, có thể thu thập dễ dàng và đảm bảo tính thẩm mỹ cho bệnh nhân. Tuy nhiên các dữ liệu về hiệu quả giải phẫu và chức năng sinh lý của phẫu thuật tạo hình âm đạo sử dụng môi bé âm hộ trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay là rất hạn chế.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ cho bệnh nhân nữ mắc hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – Hauser” với hai mục tiêu chính: - Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh nhân nữ mắc hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – Hauser phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ. - Đánh giá bước đầu kết quả sau phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép niêm bé âm hộ. 2 document, khoa luan9 of 98. tai lieu, luan van10 of 98.

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ HÌNH THÁI CỦA HỆ SINH DỤC NỮ Hệ sinh dục nữ bao gồm các cơ quan sinh dục trong và ngoài. Cơ quan sinh dục trong bao gồm buồng trứng, vòi tử cung hay ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan bên ngoài gồm âm vật và tập hợp các thành phần gò mu, môi lớn, môi bé, tiền đình âm đạo gọi chung là âm hộ [60, 3]. Cơ quan sinh dục nữ trên thiết đồ đứng dọc của chậu hông [60]. Cơ quan sinh dục trong 1.

Âm đạo Âm đạo là một ống xơ cơ đàn hồi có chiều dài khoảng 7-10 cm có khả năng giãn nở đáng kể, được lót bên trong bởi một lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa, trải dài từ tiền đình âm đạo đến tử cung. Thành trước âm đạo liên quan với đáy bàng quang ở phía trên và niệu đạo ở dưới. Thành sau âm đạo ngăn cách với trực tràng bởi túi cùng Douglas. Đầu trên âm đạo bám vào cổ tử cung và cùng với phần âm đạo của cổ tử cung tạo thành vòm âm đạo.

Xung quanh đầu dưới âm đạo có hành tiền đình và cơ hành xốp có vai trò như là một cơ thắt âm đạo. Ở nữ giới chưa quan hệ tình dục, đầu dưới thường được đậy bằng một màng niêm mạc thủng (màng trinh). Bình thường, trục của âm đạo và tử cung tạo với nhau một góc 90°. Cấu trúc mô học ống âm đạo Thành âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp [1, 55]: 3 document, khoa luan10 of 98.

tai lieu, luan van11 of 98. + Trong cùng là lớp niêm mạc với nhiều nếp gấp ngang được lợp bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa và được bao phủ bởi một lớp chất nhày do tuyến cổ tử cung và một phần các tuyến ở tiền đình âm đạo tiết ra. Estrogen thúc đẩy việc tích trữ glycogen ở lớp giữa và lớp trên của biểu mô. Khi các tế bào biểu mô già cỗi và bong ra, glycogen được giải phóng và chuyển hóa bởi vi khuẩn tạo ra axit lactic giúp làm giảm độ pH trong lòng ống và ức chế sự phát triển của mầm bệnh.

Về lớp đệm, mô liên kết dưới biểu mô tạo thành các nhú chân bì và chia thành 2 lớp. Lớp sát với biểu mô có nhiều tế bào liên kết, lớp sát với thớ cơ chứa nhiều tĩnh mạch, sợi chun. Các tế bào lympho và bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu trung tính) có mặt trong mô liên kết. Rải rác có những nang bạch huyết.

Âm đạo có một số đầu tận của thần kinh cảm giác, nhiều hơn ở 1/3 dưới âm đạo. Không có tuyến ở lớp đệm. + Lớp giữa là lớp cơ, được chia thành 2 thớ, cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong. Lớp cơ ngoài tiếp nối với lớp tương đương của tử cung và dày hơn nhiều so với lớp trong.

+ Lớp ngoài cùng gồm một lớp mô liên kết dày đặc bên trong và một lớp mô liên kết lỏng lẻo bên ngoài. Lớp mô liên kết bên trong chứa nhiều sợi chun giúp tăng khả năng chun giãn của thành âm đạo. Lớp bên ngoài chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết, và thần kinh. Biểu mô lát tầng không sừng hóa Lớp đệm Lớp cơ vòng Lớp cơ dọc Hình 1.

Cơ quan sinh dục nữ trên thiết đồ đứng dọc của chậu hông [55]. Các tế bào trong biểu mô lát tầng không sừng hóa thường sáng màu do có nhiều glycogen trong tế bào chất của chúng. Lớp đệm được nhận biết bởi sự phong phú của các mạch máu thành mỏng. 4 document, khoa luan11 of 98.

tai lieu, luan van12 of 98. Mạch máu và thần kinh của âm đạo Động mạch âm đạo là các nhánh âm đạo tách từ động mạch tử cung, động mạch trực tràng giữa và động mạch chậu trong. Tĩnh mạch âm đạo tạo thành 1 đám rối nối với đám rối tĩnh mạch tử cung ở trên, đám rối tĩnh mạch bàng quang ở trước và sau cùng đổ vào tĩnh mạch chậu trong. Bạch mạch âm đạo: đổ vào chuỗi hạch động mạch tử cung hoặc chuỗi động mạch âm đạo rồi đổ vào các hạch chậu.

Thần kinh: gồm các nhánh tách ra từ đám rối hạ vị. Tử cung và vòi tử cung Tử cung nằm giữa chậu hông bé, giữa bàng quang và trực tràng, thông với các vòi tử cung ở trên và liên tiếp với âm đạo ở dưới. Tử cung là một cơ quan rỗng, hình quả lê, là nơi trứng làm tổ, chứa đựng và nuôi dưỡng thai nhi cho tới khi ra đời. Tử cung được chia làm hai phần là thân tử cung tạo nên 2/3 trên và cổ tử cung chiếm 1/3 dưới.

Khoang rỗng bên trong tử cung là một khoang hẹp, được chia thành buồng tử cung và ống cổ tử cung. Thành tử cung gồm 3 lớp: lớp phúc mạc, lớp cơ và lớp niêm mạc. Âm đạo bám quanh cổ tử cung, chia cổ tử cung thành phần trên âm đạo và phần âm đạo. Các dây chằng rộng, dây chằng tròn, dây chằng cổ tử cung là những phương tiện neo giữ tử cung tại chỗ.

Nguồn cấp máu chính cho tử cung là động mạch tử cung. Có 2 vòi tử cung, mỗi vòi dài khoảng 10 cm, nằm ở hai bên tử cung, trong bờ trên của dây chằng rộng. Vòi tử cung có đầu trong đi vào góc trên ngoài của buồng tử cung và đầu ngoài mở ra ổ phúc mạc. Từ ngoài vào trong, vòi được chia làm 4 phần là phễu vòi, bóng vòi, eo vòi và phần tử cung.

Phần đầu vòi có các tua vòi gắn vào buồng trứng có tác dụng bắt trứng rụng và dẫn trứng vào trong buồng tử cung. Buồng trứng Ở phụ nữ chưa sinh nở, buồng trứng nằm ở phía sau và dưới phần ngoài vòi tử cung. Buồng trứng có hình hạt đậu dẹt, khoảng 3 cm chiều dài, 1,5 cm chiều rộng và 1 cm chiều dày. Đầu trên của buồng trứng là nơi bám của tua buồng trứng của vòi tử cung.

Lớp ngoài của buồng trứng gọi là lớp vỏ, có chứa nang noãn, có chất đệm bao quanh. Lớp giữa là tuỷ của buồng trứng, cuống phía trong của buồng trứng có những mạch máu vào thần kinh đi vào. 5 document, khoa luan12 of 98. tai lieu, luan van13 of 98.

Buồng trứng của người phụ nữ tương đương với tinh hoàn của nam giới, bên cạnh việc chứa nang noãn nó còn sản sinh ra một số hormone, chủ yếu là estrogen, progesteron.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ