Nghiên cứu nguy cơ tim mạch theo thang điểm Framingham & WHO/ISH ở bệnh nhân ĐTĐ

Tài liệu mô tả và phân tích chi tiết nguy cơ mắc bệnh tim mạch theo thang điểm Framingham, áp dụng trên bệnh nhân đái tháo đường type 2.

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp đại học

2022

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thang Điểm Framingham Công Cụ Đánh Giá Nguy Cơ Tim Mạch Hiệu Quả

Thang điểm Framingham là một công cụ lâm sàng quan trọng được phát triển dựa trên nghiên cứu dài hạn của Framingham Heart Study. Đây là công cụ đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch trong 10 năm được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng toàn thế giới. Thang điểm này giúp các bác sĩ xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh lý tim mạch, đặc biệt là ở những bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2. Bằng cách đánh giá các yếu tố nguy cơ chính như tuổi, huyết áp, cholesterol, tiểu đường và tình trạng hút thuốc, thang điểm Framingham cung cấp một ước tính định lượng về rủi ro mắc bệnh tim mạch. Công cụ này có độ chính xác cao và được khuyến cáo bởi nhiều tổ chức y tế hàng đầu như Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA).

1.1. Định Nghĩa và Lịch Sử Phát Triển Thang Điểm Framingham

Thang điểm Framingham được phát triển từ dữ liệu của Framingham Heart Study, một nghiên cứu theo dõi dọc kéo dài hơn 60 năm. Nó được thiết kế để dự đoán nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm ở những người không có bệnh tim mạch ban đầu. Thang điểm này sử dụng các biến số lâm sàng dễ đo lường và có sẵn trong thực hành lâm sàng hàng ngày, giúp bác sĩ có thể dễ dàng áp dụng vào công tác chăm sóc bệnh nhân.

1.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Được Đánh Giá Trong Thang Điểm

Thang điểm Framingham đánh giá các yếu tố nguy cơ chính bao gồm: tuổi, giới tính, huyết áp tâm thu (HATT), cholesterol tổng, cholesterol HDL, tình trạng hút thuốc và tiểu đường. Mỗi yếu tố được gán điểm dựa trên mức độ ảnh hưởng của nó đến nguy cơ bệnh tim mạch. Tổng điểm được chuyển đổi thành xác suất phần trăm mắc bệnh trong 10 năm, giúp phân tầng bệnh nhân thành các nhóm nguy cơ khác nhau: thấp, trung bình và cao.

II. Ứng Dụng Thang Điểm Framingham Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Type 2

Bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2nguy cơ bệnh tim mạch cao gấp 2-4 lần so với những người không bị bệnh. Sử dụng thang điểm Framingham ở nhóm bệnh nhân này có ý nghĩa lâm sàng rất quan trọng vì nó giúp xác định những bệnh nhân cần can thiệp sớm về lối sống và dùng thuốc. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng thang điểm Framingham trong đánh giá nguy cơ bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường giúp cải thiện kết quả lâm sàng. Điều này bởi vì bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 thường có nhiều yếu tố nguy cơ kèm theo như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và thừa cân/béo phì.

2.1. Đặc Điểm Bệnh Tim Mạch Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Type 2

Bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2nguy cơ bệnh tim mạch cao do các cơ chế bệnh sinh phức tạp. Tăng đường huyết gây hại đến lớp nội mạc mạch máu, tăng tính viêm và dính kết tiểu板。Bệnh tim mạch ở nhóm này thường biểu hiện dưới nhiều hình thức như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và bệnh mạch máu ngoại biên. Việc sử dụng thang điểm Framingham giúp phát hiện sớm những bệnh nhân có nguy cơ cao.

2.2. Cơ Chế Bệnh Sinh Xơ Vữa Mạch Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường

Cơ chế xơ vữa mạch ở bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 liên quan đến sự tích tụ cholesterol, viêm và rối loạn điều hòa huyết áp. Tăng đường huyết gây ra rối loạn lipid máu với LDL-C caoHDL-C thấp, tăng nguy cơ hình thành mảng xơ vữa. Các yếu tố này kết hợp làm tăng đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch. Thang điểm Framingham giúp định lượng rủi ro này một cách khoa học và có sở cứ.

III. So Sánh Thang Điểm Framingham Với Thang Điểm WHO ISH

Ngoài thang điểm Framingham, thang điểm WHO/ISH cũng được sử dụng để đánh giá nguy cơ bệnh lý tim mạch trong 10 năm. Cả hai công cụ đều có những ưu điểm riêng trong việc dự đoán nguy cơ bệnh tim mạch ở các dân số khác nhau. Thang điểm Framingham thường được sử dụng ở các nước phát triển với cơ sở dữ liệu lâu dài, trong khi thang điểm WHO/ISH được thiết kế để áp dụng rộng rãi hơn ở các vùng địa lý khác nhau. Các nghiên cứu so sánh giữa hai thang điểm này ở bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 cho thấy mức độ đồng thuận khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm dân số và các yếu tố nguy cơ cục bộ.

3.1. Đặc Điểm Và Ưu Điểm Của Thang Điểm Framingham

Thang điểm Framingham được phát triển từ dữ liệu thực tế lâu dài và có độ chính xác cao trong dự đoán nguy cơ bệnh tim mạch. Ưu điểm chính là tính chính xác cao, được xác thực qua nhiều nghiên cứu lâm sàng lớn. Tuy nhiên, nó có hạn chế về khả năng áp dụng ở các vùng địa lý khác nhau do được phát triển chủ yếu từ dân số Mỹ. Thang điểm Framingham đòi hỏi các xét nghiệm cận lâm sàng cụ thể như cholesterol toàn phần và HDL-C.

3.2. Đặc Điểm Và Ưu Điểm Của Thang Điểm WHO ISH

Thang điểm WHO/ISH được thiết kế với mục đích áp dụng toàn cầu, đặc biệt phù hợp với các nước có thu nhập trung bình và thấp. Ưu điểm của nó là đơn giản hơn, không cần tất cả các xét nghiệm máu chi tiết, chỉ cần đo huyết áp và một số thông tin cơ bản. Tuy nhiên, thang điểm WHO/ISH có độ chính xác thấp hơn thang điểm Framingham trong một số quần thể bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2.

IV. Ý Nghĩa Lâm Sàng Và Khuyến Cáo Sử Dụng Thang Điểm Đánh Giá Nguy Cơ

Việc sử dụng thang điểm Framinghamthang điểm WHO/ISHý nghĩa lâm sàng rất quan trọng trong quản lý nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2. Các tổ chức quốc tế như ACC/AHA, Hội Tim Mạch và Nghiên Cứu Đái Tháo Đường Châu Âu (ESC-EASD) khuyến cáo sử dụng các công cụ đánh giá nguy cơ này để hướng dẫn quyết định điều trị. Kết quả đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch giúp xác định những bệnh nhân cần can thiệp sớm, sử dụng thuốc chống atherosclerosis, kiểm soát huyết ápcholesterol một cách tích cực hơn. Điều này góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

4.1. Phân Tầng Nguy Cơ Và Hướng Dẫn Điều Trị

Dựa trên kết quả thang điểm Framingham hoặc thang điểm WHO/ISH, bệnh nhân được phân tầng thành các nhóm nguy cơ thấp, trung bình và cao. Bệnh nhân nhóm nguy cơ cao (>20% nguy cơ 10 năm) cần can thiệp mạnh mẽ bao gồm: thay đổi lối sống, sử dụng statins, kiểm soát huyết áp tích cực, và tính toán rủi ro từng bệnh nhân. Bệnh nhân nhóm nguy cơ thấp được khuyên thay đổi lối sống và tái đánh giá định kỳ.

4.2. Khuyến Cáo Từ Các Tổ Chức Y Tế Quốc Tế

Các tổ chức y tế quốc tế như ACC/AHA, ESC-EASD khuyến cáo sử dụng công cụ đánh giá nguy cơ để hướng dẫn điều trị phòng ngừa bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Khuyến cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của phát hiện sớm và can thiệp preventive. Sử dụng đúng thang điểm đánh giá giúp tối ưu hóa điều trị, giảm chi phí y tế và cải thiện kết quả bệnh nhân.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vài nét về bệnh đái tháo đường 1. Khái niệm Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association – ADA), ĐTĐ được định nghĩa như một bệnh lý chuyển hóa, đặc trưng bởi nồng độ đường máu cao, do thiếu hụt về tiết insulin, tác động của insulin hoặc cả hai. Việc tăng đường máu mạn tính có liên quan đến nhiều tổn thương ở các cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim mạch… Định nghĩa này nhấn mạnh những biến chứng ở cơ quan đích do ĐTĐ gây ra.

Trong đó, ĐTĐ type 2 là bệnh lý mạn tính đặc trưng bởi tình trạng đường huyết cao và đề kháng insulin. Đây là vấn đề sức khỏe nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng [53]. Có tới 90 – 95% bệnh nhân ĐTĐ thuộc type 2 [37]. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn tuổi song đang có xu hướng trẻ hóa, do đó, việc chẩn đoán bệnh và phát hiện sớm các tổn thương cơ quan đích là vấn đề ngày càng được quan tâm [54].

Dịch tễ Tỷ lệ ĐTĐ ngày càng tăng cùng với sự phát triển số dân, đô thị hóa, tình trạng béo phì, chế độ ăn không hợp lý, lối sống ít vận động. Ước tính số người mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng mạnh qua các năm và đạt tới 592 triệu người vào năm 2035 [71]. WHO ước tính năm 2021 có khoảng 422 triệu người mắc ĐTĐ, tập trung phần lớn ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, đồng thời hàng năm có tới 1,6 triệu người chết vì ĐTĐ [85]. Cũng theo WHO, ĐTĐ là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, đặc biệt ở nam giới, tỷ lệ này tăng 80% từ năm 2000 [10].

Theo số liệu của IDF, năm 2020 Việt Nam có 3,779,600 ca mắc ĐTĐ, với tỷ lệ người trưởng thành mắc ĐTĐ là 5. Năm 2021, tỷ lệ đó là 6% và gánh nặng bệnh tật là 418,1 USD/người [48]. Chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (theo ADA 2019 [89]) dựa vào một trong các tiêu chuẩn sau: document, khoa luan11 of 98. 2 tai lieu, luan van12 of 98.

- Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Bệnh nhân phải nhịn ăn ít nhất 8 giờ. Hoặc: - Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của WHO.

Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Hoặc: - Glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) với triệu chứng của tăng đường huyết (uống nhiều, tiểu nhiều, sụt cân) Nế u không có tăng đường huyế t rõ ràng, nên lă ̣p la ̣i xét nghiê ̣m để xác nhâ ̣n kế t quả. Biến chứng Ước tính rằng một nửa số bệnh nhân ĐTĐ không nhận biết về tình trạng bệnh của họ và do đó, khả năng có biến chứng cũng cao hơn. Tuân thủ điều trị ĐTĐ có thể giảm trên 10% nguy cơ của các biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn [44].

Do đó, việc phát hiện sớm nguy cơ của các biến chứng và đưa ra các phác đồ kịp thời là rất quan trọng trong việc kiểm soát bệnh ĐTĐ. Biến chứng cấp tính Biến chứng cấp tính gồm có nhiễm ceton acid, tăng áp lực thẩm máu và hạ đường huyết, thường xảy ra trên bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém. Hạ đường huyết do những nguyên nhân như tiêm quá liều insulin, thuốc hạ đường huyết đường uống, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng. Khi đó cần điều trị tăng đường huyết nhanh nhất tới an toàn.

Nhiễm toan ceton xảy ra khi cơ thể có quá ít insulin, tạo năng lượng thông qua chuyển hóa chất béo, làm tăng lượng ceton trong cơ thể quá cao, gây nên triệu chứng nôn, mất nước và có thể hôn mê. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, có tỷ lệ tử vong từ 10 – 20%, gấp 10 lần so với trường hợp nhiễm toan ceton [70]. document, khoa luan12 of 98. 3 tai lieu, luan van13 of 98.

Biến chứng mạn tính 1. Biến chứng mạch máu nhỏ Việc chẩn đoán phát hiện sớm biến chứng mạch máu nhỏ, từ đó đưa ra phác đồ theo dõi điều trị sớm là điều rất cần thiết. Một nghiên cứu về bệnh ĐTĐ tại Anh cho thấy, những bệnh nhân có sự kiểm soát đường huyết chặt chẽ sẽ có ít nguy cơ mắc các biến chứng vi mạch hơn [46]. Biến chứng vi mạch thường gặp là bệnh võng mạc ĐTĐ, một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây mù lòa.

Các nguyên nhân gây giảm hay mất thị lực gồm có phù hoàng điểm do ĐTĐ gây nên giảm thị lực trung tâm, bệnh võng mạc tăng sinh dẫn đến tăng tạo mạch máu mới và mô sợi, gây nên bong võng mạc hoặc xuất huyết thủy tinh thể, xuất huyết tiền võng mạc [37]. Tình trạng nhiễm trùng da đặc biệt nhiễm trùng bàn chân là một trong những biến chứng thường gặp của người bệnh ĐTĐ. Nếu không được điều trị và chăm sóc, tình trạng này có thể tiến triển đến bàn chân Charcot, loét bàn chân và cuối cùng là cắt cụt chân [37]. Do vậy ADA khuyến cáo đánh giá toàn diện bàn chân ít nhất một năm một lần để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ có thể gây loét và cắt cụt chi ở bệnh nhân ĐTĐ [11].

Bệnh thận ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh thận mạn và bệnh thận giai đoạn cuối [14]. Albumin niệu và eGFR là những dấu ấn sinh học thường được sử dụng hiện nay để chẩn đoán và tầm soát bệnh thận ĐTĐ [37]. Biến chứng thần kinh có thể hiện diện ở đầu gần hoặc xa của sợi thần kinh trong bệnh cảnh viêm đơn dây thần kinh, hoặc ảnh hưởng đến hệ thần kinh soma hoặc thần kinh thực vật [19]. Các dây thần kinh bị tổn thương gây các triệu chứng đau, mất cảm giác và đôi khi rối loạn chức năng tình dục ở một số trường hợp.

Biến chứng mạch máu lớn Tổn thương mạch máu lớn gây nên bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại biên. Một nghiên cứu hệ thống trên hơn 4500000 bệnh nhân ĐTĐ document, khoa luan13 of 98. 4 tai lieu, luan van14 of 98. type 2 toàn thế giới từ năm 2007 đến 2017 cho thấy tỷ lệ 32,2% bệnh nhân mắc bệnh tim mạch; cụ thể 29,1% trường hợp xơ vữa động mạch; 21,2% bệnh tim mạch, suy tim chiếm 14,9%; 7,6% bệnh nhân đột quỵ.

Bệnh tim mạch là nguyên nhân của 50,3% ca tử vong ở người bệnh ĐTĐ [35]. Người trưởng thành mắc ĐTĐ có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch gấp 2 đến 3 lần so với người không mắc ĐTĐ. Những bệnh nhân ĐTĐ không có tiền sử nhồi máu cơ tim trước đây có cùng mức nguy cơ hội chứng vành cấp so với những bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim trước đây mà không mắc ĐTĐ [44]. Bệnh lý động mạch ngoại biên là một trong các nguyên nhân gây nên tình trạng loét bàn chân và cắt cụt chi, đặc trưng bởi tình trạng thuyên tắc động mạch chi dưới, hậu quả làm giảm chức năng chi và có thể gây tàn tật [22].

Vài nét về bệnh lý tim mạch 1. Khái niệm Theo WHO, bệnh tim mạch là nhóm các rối loạn của tim và mạch máu và bao gồm bệnh tim mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh thấp tim và các bệnh khác. Phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao với hơn 80% trường hợp tử vong do bệnh tim mạch là do đau tim và đột quỵ, và một phần ba số ca tử vong này xảy ra sớm ở những người dưới 70 tuổi [84]. Dịch tễ Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới.

Theo ước tính của WHO, năm 2019 có tới 17.9 triệu người tử vong do bệnh tim mạch, chiếm 32% tổng số ca tử vong trên toàn cầu. 85% số bệnh nhân tử vong do bệnh tim mạch do các nguyên nhân đau tim và đột quỵ. ¾ trong số đó thuộc các nước thu nhập thấp và trung bình, trong đó có Việt Nam. Theo thống kê của trường Tim mạch Hoa Kỳ (ACC), số người mắc bệnh tim mạch tăng gấp đôi từ năm 1990 (271 triệu ca) và năm 2019 (523 triệu ca) [9].

Do vậy, chiến lược đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch nhằm có các kế hoạch điều trị sớm giúp giảm nhẹ nguy cơ tiến triển bệnh cũng như biến chứng là rất quan trọng. document, khoa luan14 of 98. 5 tai lieu, luan van15 of 98. Một số bệnh lý tim mạch - Bệnh lý mạch vành: + Cơn đau thắt ngực: đau thắt ngực ổn định hoặc không ổn định, đau mờ nhạt không điển hình, gọi là cơn thiếu máu cơ tim thầm lặng.

+ Nhồi máu cơ tim: có khi phát hiện tình cờ trước dấu hiệu nhồi máu cơ tim cũ trên điện tâm đồ, có khi là cơn đau ngực điển hình. Đôi khi chính nhờ dấu hiệu nhồi máu cơ tim mà bệnh ĐTĐ mới được phát hiện. - Tăng huyết áp: Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu > 140mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg [75]. Tăng huyết áp ở BN ĐTĐ týp 2 có thể là do sự đề kháng insulin làm tăng insulin máu.

Insulin có tác dụng giữ natri máu đồng thời kích thích tăng tiết catecholamine. Ngoài ra, sự đề kháng insulin còn làm mất khả năng giãn mạch của insulin. Tất cả các yếu tố này có thể gây ra tăng huyết áp. - Bệnh lý mạch não: Nhồi máu não hoặc xuất huyết não với các biểu hiện lâm sàng gồm liệt nửa người, liệt mặt, khó nói, khó nuốt, thất ngôn, …Chẩn đoán xác định dựa vào hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ sọ não.

- Bệnh mạch máu ngoại biên: Triệu chứng bao gồm đau cách hồi; chân lạnh tím đỏ ở phần dưới, ở ngón chân; vết loét, hoại tử, có thể kèm nhiễm khuẩn. Bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 1. Một số đặc điểm bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 Theo IDF, bệnh tim mạch là nguyên nhân chính gây bệnh tật và tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ. Bệnh nhân ĐTĐ dễ có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch nguy hiểm ở độ tuổi trẻ hơn những người không mắc ĐTĐ.

Đặc biệt ĐTĐ type 2 có mối liên quan đến các yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch, làm tăng nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch từ 2 đến 4 lần [18]. Bệnh nhân ĐTĐ type 2 có tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh tim mạch tương đương với người không mắc ĐTĐ mà đã có bệnh tim mạch trước đó [43]. document, khoa luan15 of 98. 6 tai lieu, luan van16 of 98.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ