Bệnh mắt ở lao động tiếp xúc bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt - Lê Minh Hạnh

Tôi có thể tạo meta tags cho bài viết của bạn như sau: { "ai_description": "Nghiên cứu bệnh mắt ở lao động tiếp xúc bức xạ tử ngoại và nhiệt. Tìm hiểu

Trường đại học

Viện Sức khỏe Nghề nghiệp và Môi trường

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

176
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh mắt ở người lao động tiếp xúc bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt

Nghiên cứu về bệnh mắt nghề nghiệp liên quan đến bức xạ tử ngoại (UV) và bức xạ nhiệt (IR) là lĩnh vực quan trọng trong y học lao động. Người lao động trong các ngành công nghiệp nặng như đóng tàu, luyện gang thép thường xuyên tiếp xúc với cường độ bức xạ cao. Các tia UV có bước sóng 100-400nm và tia IR có bước sóng trên 780nm tác động trực tiếp lên cấu trúc nhãn cầu. Bệnh lý mắt phổ biến bao gồm đục thể thủy tinh, mộng mắt, viêm giác mạc. Đục thể thủy tinh do bức xạ thường biểu hiện ở vị trí vỏ sau và nhân trung tâm. Mộng mắt phát triển do kích thích tia UV kéo dài. Viêm giác mạc ánh sáng xuất hiện sau tiếp xúc cường độ cao. Tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi nghề và mức độ tiếp xúc. Nghiên cứu tại các nhà máy đóng tàu và gang thép Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh mắt cao hơn nhóm so sánh không tiếp xúc. Tình hình sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân còn hạn chế.

1.1. Giải phẫu nhãn cầu và cơ chế tác động của bức xạ

Nhãn cầu gồm nhiều cấu trúc phân tầng bảo vệ trước bức xạ. Giác mạc hấp thụ phần lớn tia UV-B ở bước sóng 290-315nm. Thủy dịch và thể thủy tinh hấp thụ tia UV-A và một phần bức xạ nhiệt. Cơ chế tổn thương bao gồm quá trình oxy hóa protein thể thủy tinh, phá hủy DNA tế bào biểu mô. Nhiệt độ tăng tại thể thủy tinh khi tiếp xúc IR dài hạn gây biến tính protein. Sự tích lũy tổn thương qua thời gian dẫn đến đục thể thủy tinh tiến triển. Mắt trẻ em và người lớn tuổi dễ bị tổn thương hơn do hàng rào bảo vệ kém hiệu quả.

1.2. Phân loại bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt trong môi trường lao động

Bức xạ tử ngoại gồm ba loại chính: UV-C (100-280nm) bị tầng ozone hấp thụ; UV-B (280-315nm) gây tổn thương giác mạc và thể thủy tinh; UV-A (315-400nm) thâm nhập sâu hơn vào mắt. Bức xạ nhiệt phát ra từ nguồn nhiệt công nghiệp như lò nung, hồ quang điện, kim loại nóng chảy. Trong môi trường đóng tàu, nguồn bức xạ chính là hồ quang hàn điện với nhiệt độ 6000-8000 độ C. Nhà máy gang thép tạo bức xạ nhiệt từ lò cao, lò luyện thép. Cường độ bức xạ phụ thuộc khoảng cách, thời gian tiếp xúc và điều kiện thông gió.

II. Phân tích đặc điểm bệnh mắt và yếu tố nguy cơ nghề nghiệp

Nghiên cứu tại Công ty Đóng tàu Hạ Long và Công ty Gang thép Thái Nguyên ghi nhận nhiều loại bệnh mắt liên quan đến bức xạ. Đục thể thủy tinh là bệnh lý phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ cao ở nhóm tiếp xúc. Đặc điểm đục thể thủy tinh nghề nghiệp thường gặp ở vị trí vỏ sau và dưới bao sau. Mộng mắt phát triển từ phía mũi hoặc thái dương, tiến triển theo thời gian tiếp xúc. Viêm giác mạc ánh sáng xuất hiện cấp tính sau ca hàn, biểu hiện đau mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi nghề trên 10 năm, thiếu phương tiện bảo vệ mắt, cường độ bức xạ cao. Nhóm thợ hàn và thợ lò có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. So sánh với nhóm chứng không tiếp xúc, tỷ lệ đục thể thủy tinh cao gấp 2-3 lần. Tuổi đời trên 40 kết hợp tuổi nghề dài làm tăng nguy cơ đáng kể.

2.1. Đặc điểm lâm sàng đục thể thủy tinh do bức xạ

Đục thể thủy tinh do bức xạ tử ngoại thường định vị ở vỏ sau và dưới bao sau. Hình thái đục dạng chấm, đốm hoặc hình nến bốc khói đặc trưng. Bệnh nhân giảm thị lực từ từ, lóa mắt, rối loạn phân biệt màu sắc. Đục thể thủy tinh do bức xạ nhiệt thường gặp ở vỏ sau, liên quan đến thợ thổi thủy tinh và thợ lò. Tiến triển bệnh phụ thuộc mức độ tiếp xúc tích lũy. Khám sinh hiển vi sau giãn đồng tử giúp đánh giá chính xác vị trí và mức độ đục. Chẩn đoán phân biệt với đục thể thủy tinh do tuổi già dựa vào đặc điểm hình thái và tiền sử tiếp xúc nghề nghiệp.

2.2. Tỷ lệ mắc bệnh mắt theo nhóm nghề nghiệp tiếp xúc

Thống kê tại các cơ sở nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm nghề nghiệp. Thợ hàn hồ quang điện có tỷ lệ viêm giác mạc ánh sáng cấp tính cao nhất do tiếp xúc trực tiếp bức xạ UV cường độ mạnh. Công nhân lò luyện thép mắc đục thể thủy tinh nhiều hơn nhóm làm việc văn phòng. Thợ đóng tàu tiếp xúc bức xạ từ nhiều nguồn: hàn, cắt kim loại, mài. Tỷ lệ mộng mắt tăng ở nhóm làm việc ngoài trời kết hợp tiếp xúc UV. Tuổi nghề càng dài, tỷ lệ mắc bệnh càng cao. Nhóm sử dụng kính bảo hộ đầy đủ có tỷ lệ mắc thấp hơn đáng kể so với nhóm không sử dụng.

III. Phương pháp nghiên cứu và đánh giá bệnh mắt nghề nghiệp

Phương pháp nghiên cứu bao gồm nhiều bước tiếp cận tổng hợp. Khảo sát thực địa tại hiện trường lao động để đánh giá điều kiện tiếp xúc bức xạ. Quan trắc cường độ bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt tại vị trí làm việc bằng thiết bị đo chuyên dụng. Phỏng vấn người lao động về tiền sử tiếp xúc, thói quen sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân. Khám lâm sàng mắt toàn diện bao gồm đo thị lực, sinh hiển vi, soi đáy mắt. Sử dụng thuốc giãn đồng tử để đánh giá thể thủy tinh chi tiết. Phân loại đục thể thủy tinh theo tiêu chuẩn WHO năm 1999. So sánh tỷ lệ mắc bệnh giữa nhóm tiếp xúc và nhóm chứng. Phân tích mối liên quan giữa mức độ tiếp xúc và tỷ lệ mắc bệnh bằng phương pháp thống kê sinh học. Đánh giá hiệu quả sử dụng phương tiện bảo vệ mắt trong thực tế sản xuất.

3.1. Kỹ thuật quan trắc và đánh giá mức độ tiếp xúc bức xạ

Quan trắc bức xạ tử ngoại sử dụng máy đo UV radiometer tại các vị trí làm việc điển hình. Đo cường độ bức xạ tại khoảng cách khác nhau từ nguồn phát. Ghi nhận thời gian tiếp xúc thực tế trong mỗi ca làm việc. Đánh giá bức xạ nhiệt bằng thiết bị đo bức xạ toàn phần và bức xạ hồng ngoại. Lập bản đồ phân bố cường độ bức xạ trong khu vực sản xuất. Xác định liều tiếp xúc tích lũy theo giờ làm việc. So sánh với tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam (TCVN) và quốc tế (ACGIH). Đánh giá điều kiện thông gió, che chắn và khoảng cách an toàn.

3.2. Quy trình khám lâm sàng và chẩn đoán bệnh mắt

Khám mắt bao gồm đo thị lực gần và xa bằng bảng Snellen. Soi đèn khe đánh giá giác mạc, tiền phòng, thể thủy tinh. Đo nhãn áp loại trừ glaucoma. Nhỏ thuốc giãn đồng tử tropicamide 1% để soi đáy mắt và đánh giá thể thủy tinh chi tiết. Phân loại đục thể thủy tinh theo tiêu chuẩn LOCS III hoặc WHO. Ghi hình ảnh thể thủy tinh bằng slit-lamp camera. Đánh giá mộng mắt theo kích thước và vị trí. Xét nghiệm bổ sung: chụp OCT võng mạc, đo trường thị giác khi cần thiết. Chẩn đoán xác định bệnh mắt nghề nghiệp dựa vào triệu chứng lâm sàng, hình thái bệnh và tiền sử tiếp xúc rõ ràng.

IV. Kết luận và ứng dụng phòng ngừa bệnh mắt nghề nghiệp

Nghiên cứu khẳng định mối liên quan giữa tiếp xúc nghề nghiệp với bức xạ tử ngoại, bức xạ nhiệt và bệnh mắt ở người lao động. Tỷ lệ đục thể thủy tinh, mộng mắt ở nhóm tiếp xúc cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Yếu tố nguy cơ chính bao gồm tuổi nghề, cường độ bức xạ và thiếu phương tiện bảo vệ. Nghiên cứu đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán đục thể thủy tinh nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. Giải pháp phòng ngừa bao gồm trang bị kính bảo hộ đạt chuẩn, cải thiện quy trình công nghệ, giám sát sức khỏe định kỳ. Chương trình khám sàng lọc bệnh mắt cần được triển khai tại các cơ sở sản xuất có nguy cơ. Đào tạo nhận thức cho người lao động về tác hại của bức xạ và cách tự bảo vệ. Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng chính sách bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp.

4.1. Đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán đục thể thủy tinh nghề nghiệp

Tiêu chuẩn chẩn đoán cần đáp ứng các tiêu chí: tiền sử tiếp xúc nghề nghiệp với bức xạ trên 5 năm; đặc điểm hình thái đục thể thủy tinh ở vị trí vỏ sau hoặc dưới bao sau; loại trừ nguyên nhân khác gây đục thể thủy tinh. Tiêu chuẩn lâm sàng bao gồm giảm thị lực tiến triển, hình thái đục đặc trưng trên sinh hiển vi. Tiêu chuẩn cận lâm sàng: ghi nhận cường độ tiếp xúc bức xạ vượt ngưỡng cho phép. Hội đồng chuyên gia cần đánh giá từng trường hợp cụ thể. Đưa đục thể thủy tinh nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp giúp người lao động được hưởng quyền lợi bảo hiểm và điều trị kịp thời.

4.2. Biện pháp phòng ngừa và bảo vệ mắt tại nơi làm việc

Biện pháp kỹ thuật bao gồm lắp đặt màn chắn bức xạ, hệ thống hút bụi và khí độc tại nguồn. Cải tiến quy trình công nghệ giảm phát sinh bức xạ. Biện pháp hành chính: bố trí thời gian luân phiên, hạn chế thời gian tiếp xúc liên tục. Trang bị kính bảo hộ mắt đạt tiêu chuẩn ANSI Z87.1 hoặc tương đương. Kính hàn phải có độ che phủ phù hợp với cường độ hồ quang. Khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần cho nhóm nguy cơ cao. Giáo dục đào tạo nhận thức về tác hại bức xạ mắt. Giám sát môi trường lao động định kỳ để đánh giá hiệu quả biện pháp phòng ngừa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số bệnh mắt ở người lao động tiếp xúc nghề nghiệp với bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Từ lâu, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về bức xạ nhiệt, bức xạ tử ngoại và ảnh hƣởng của chúng đến sức khỏe con ngƣời đặc biệt tới thị lực và sức khỏe mắt. Ảnh hƣởng đó phụ thuộc vào vào đặc điểm bức xạ, cƣờng độ mạnh hay yếu, thời gian tiếp xúc dài hay ngắn và diện tích của bề mặt chiếu bức xạ cũng nhƣ đặc điểm cấu tạo của mô tiếp xúc [1]. Mặt trời phát ra bức xạ quang tự nhiên gồm bức xạ tử ngoại, ánh sáng nhìn thấy và bức xạ hồng ngoại. Theo Tổ chức y tế thế giới, các ảnh hƣởng cấp tính đến mắt do phơi nhiễm với bức xạ mặt trời gồm viêm kết giác mạc nguyên nhân do bức xạ tử ngoại, bỏng võng mạc do ánh sáng xanh và bức xạ hồng ngoại gần.

Các ảnh hƣởng mạn tính bao gồm mộng thịt, thoái hóa kết mạc (pinguacula), đục thể thủy tinh, thoái hóa hoàng điểm, ung thƣ biểu mô tế bào vảy của giác mạc và kết mạc [2]. Tác hại của bức xạ quang nhân tạo lên mắt đƣợc báo cáo bởi bức xạ tử ngoại phát sinh trong hàn hồ quang là nguyên nhân làm thợ hàn bị viêm kết giác mạc cấp do UVR, dân gian còn gọi là đau mắt hàn. Tổn thƣơng võng mạc cấp do ánh sáng xanh đã đƣợc báo cáo bởi những ngƣời nhìn lâu vào ánh sáng hồ quang mà mắt không đƣợc bảo vệ [3], [4]. Bệnh đục thể thủy tinh do phơi nhiễm với bức xạ nhiệt mạn tính đƣợc biết đến từ năm 1739 ở thợ thổi thủy tinh và thợ luyện kim loại [5],[6].

Bỏng võng mạc do tiếp xúc với bức xạ hồng ngoại từ các nguồn công nghiệp nhƣ đèn laser hồng ngoại cũng đã đƣợc ghi nhận [7]. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đƣa bức xạ nhiệt, bức xạ tử ngoại vào danh mục các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp. Có hơn 32 nƣớc trên thế giới đã đƣa bệnh đục thể thủy tinh vào danh mục bệnh nghề nghiệp đƣợc đền bù trong đó có nhiều nƣớc Châu Âu nhƣ Pháp, Hungary, Nga và Trung Quốc. 2 Bệnh viêm giác mạc cấp do bức xạ tử ngoại, bệnh mộng thịt cũng đƣợc đƣa vào danh sách bệnh nghề nghiệp tại Pháp [8], [9], [10].

Cùng với sự phát triển kinh tế, nƣớc ta ngày càng có thêm nhiều ngƣời lao động trong các ngành công nghiệp có phơi nhiễm với bức xạ nhiệt và bức xạ tử ngoại nhƣ cơ khí luyện kim, đóng tàu, xây dựng, y tế…nên nhu cầu đƣợc bảo vệ mắt cho ngƣời lao động ngày càng cao. Trong khi đó, các nghiên cứu về vấn đề này ở trong nƣớc còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên và để có thêm cơ sở xây dựng các giải pháp cải thiện điều kiện lao động và bảo vệ mắt cho ngƣời lao động cũng nhƣ làm cơ sở đề xuất một số bệnh mắt vào danh mục bệnh nghề nghiệp đƣợc hƣởng bảo hiểm nên nghiên cứu sinh đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số bệnh mắt ở người lao động tiếp xúc nghề nghiệp với bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Đánh giá một số điều kiện lao động liên quan đến bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt ở thợ hàn, thợ luyện cán thép thuộc công ty Đóng tàu Hạ Long và công ty Gang thép Thái Nguyên năm 2013-2014 2. Xác định tỷ lệ hiện mắc một số bệnh mắt của người lao động và phân tích một số yếu tố liên quan với bức xạ tử ngoại, bức xạ nhiệt 3. Xây dựng dự thảo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp do tiếp xúc với bức xạ tử ngoại và bức xạ nhiệt 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Một vài nét về giải phẫu nhãn cầu Hình 1.

Cấu tạo nhãn cầu (Nguồn http://vietlinkplus.com/chi-tiet/cau-tao-va-co-che-hoat-dong-cua- mat/242/1259.html) Nhãn cầu có hình cầu, trục trƣớc sau của nhãn cầu trung bình là 24,2mm (trục ngang là 24,1mm, trục dọc là 23,6mm). Trọng lƣợng của nhãn cầu vào khoảng 7g đến 7,5g. Thể tích nhãn cầu là 6,5ml. Nhãn cầu đƣợc cấu tạo gồm ba lớp vỏ bọc và nội dung bên trong.

3 lớp vỏ bọc từ ngoài vào trong là: lớp giác - củng mạc; lớp màng bồ đào (chứa nhiều mạch máu); lớp màng thần kinh (võng mạc). Nội dung bên trong của nhãn cầu bao gồm những môi trƣờng trong suốt: thuỷ dịch, thể thuỷ tinh; dịch kính. Nhãn cầu đƣợc chia làm hai phần. Phần trƣớc nhãn cầu gồm có giác mạc, mống mắt, góc mống – giác mạc, thể mi và thể thuỷ tinh.

Phần sau nhãn cầu gồm có củng mạc, hắc mạc, võng mạc và dịch kích. 4 Cấu tạo các lớp vỏ nhãn cầu: * Lớp giác - củng mạc là lớp vỏ bọc ngoài cùng của nhãn cầu, có hai phần: 1/5 phía trƣớc là giác mạc, GM có hình chỏm cầu, trong suốt, nhẵn bóng, không có mạch máu và phong phú về thần kinh; 4/5 phía sau là củng mạc là một sợi mô xơ rất dai, màu trắng. * Lớp màng bồ đào gồm ba phần: mống mắt, thể mi và hắc mạc. Mống mắt và thể mi gọi là màng bồ đào trƣớc, hắc mạc gọi là màng bồ đào sau.

* Lớp màng thần kinh (võng mạc). Võng mạc là lớp thần kinh, nơi tiếp nhận các kích thích ánh sáng từ ngoại cảnh rồi truyền về vỏ não thị giác. * Cấu tạo của thể thủy tinh: là một thấu kính hội tụ trong suốt, hai mặt lồi đƣợc treo vào vùng thể mi nhờ các dây Zinn. TTT nằm mặt sau mống mắt, phía trƣớc màng dịch kính trƣớc.

TTT dày 4mm, đƣờng kính 8-10mm, bán kính độ cong mặt trƣớc là 10mm, mặt sau là 6mm. Công suất hội tụ khoảng 1/3 tổng công suất khúc xạ hội tụ của mắt. TTT đƣợc cấu tạo gồm 3 phần: bao, vỏ, nhân. Bao là màng bọc bên ngoài, trong suốt, dai và đàn hồi.

Dƣới bao ở mặt trƣớc có một lớp tế bào biểu mô có khả năng sinh sản, những tế bào mới sinh ra di chuyển về phía xích đạo rồi biệt hóa biến đổi hình thái, kéo dài ra để thành các sợi. Các sợi đƣợc sinh ra liên tục trong suốt cuộc đời mà không hề mất đi, các sợi mới tạo ra đẩy dần các sợi cũ vào trung tâm. Sợi càng cũ thì càng gần trung tâm làm ngày càng đặc lại và hình thành nhân cứng ở trung tâm. Các sợi mới đƣợc sinh ra ở bên ngoài tạo thành lớp vỏ.

Càng nhiều tuổi thì nhân càng cứng và đặc lại làm hạn chế biến đổi hình dạng khi điều tiết đƣa đến tình trạng lão thị, đục thể thủy tinh ở ngƣời lớn tuổi. Hiện tƣợng lão thị có thể thấy ở ngƣời sau 40 tuổi [11]. TTT trong suốt không có mạch máu và thần kinh, nuôi dƣỡng nhờ thẩm thấu chọn lọc từ thủy dịch. Nếu bao TTT bị tổn thƣơng làm cho các chất 5 ngấm vào sẽ gây đục thể thủy tinh.

Một số bệnh lí toàn thân và tác động của một tác nhân nào đó làm thay đổi quá trình sinh sản, biệt hóa, tổng hợp protein của các sợi TTT cũng là nguyên nhân gây đục TTT. Có rất nhiều cách phân loại đục TTT, phân loại theo WHO đơn giản và dễ áp dụng: đục dƣới bao sau, đục vỏ, đục nhân [11],[12],[13]. Cấu tạo thể thủy tinh cắt dọc Nguồn “Radiation and cataract -Staff protection của IAEA” Chú thích: Capsule (bao). Hình cấu tạo thể thủy tinh (Nguồn: Bệnh học- Học Viện quân y 103) 1.

Tác động của bức xạ nhiệt và bức xạ tử ngoại lên cơ thể 1. Một số khái niệm liên quan đến bức xạ tử ngoại, bức xạ nhiệt 1. Bức xạ điện từ Bức xạ điện từ (hay sóng điện từ) xuất phát từ mặt trời đƣợc hiểu là sự lan truyền trong không gian kiểu sóng của các hạt cơ bản (photon) với các bƣớc sóng và tần số khác nhau. Dải các bƣớc sóng này đƣợc gọi là phổ điện 6 từ.

Phổ điện từ đƣợc chia thành bảy vùng theo thứ tự bƣớc sóng giảm dần, năng lƣợng và tần số tăng dần gồm: sóng vô tuyến, sóng viba, tia hồng ngoại, ánh sáng khả kiến, tia tử ngoại, tia X và tia Gamma. Khi lan truyền, sóng điện từ mang theo năng lƣợng, động lƣợng và thông tin. Bức xạ điện từ trong dải bƣớc sóng giữa 100 nm và 1 mm đƣợc gọi là “bức xạ quang” gồm bức xạ tử ngoại, ánh sáng nhìn thấy, bức xạ hồng ngoại. Phổ bức xạ điện tử (Nguồn http://360.com/bai-viet/dien-quang/272-ban-chat-cua-buc-xa- dien-tu) Hình 1.

Sóng điện từ (Nguồn http://360.com/bai-viet/dien-quang/272-ban-chat-cua- buc-xa-dien-tu) Sóng điện từ đƣợc đặc trƣng bởi bƣớc sóng và tần số. Bƣớc sóng là khoảng cách giữa hai đỉnh (hay hai lõm) sóng liên tiếp (hình 1. Tần số tƣơng ứng của một sóng phát ra, là số chu kì sin (số dao động, hay số bƣớc sóng) đi qua một điểm cho trƣớc trong một giây, tỉ lệ với nghịch đảo của bƣớc sóng. Nhƣ vậy, bƣớc sóng càng dài ứng với bức xạ tần số càng thấp và bƣớc 7 sóng càng ngắn ứng với bức xạ tần số càng cao.

Tần số thƣờng đƣợc biểu diễn bằng đơn vị hertz (Hz) hoặc chu kì/giây [14]. Ánh sáng nhìn thấy Sóng điện từ với bƣớc sóng nằm trong khoảng 400 nm và 700 nm có thể đƣợc quan sát bằng mắt ngƣời đó là ánh sáng nhìn thấy. Bức xạ tử ngoại (tử ngoại /UVR) UVR là sóng điện từ có bƣớc sóng ngắn hơn ánh sáng nhìn thấy nhƣng dài hơn tia X. Phổ bƣớc sóng tử ngoại trải từ khoảng 10 đến xấp xỉ 400 nanomét (nm).

Theo Ủy ban quốc tế về chiếu sáng (CIE) bức xạ tử ngoại đƣợc chia làm 3 loại: o UV-A gọi là sóng dài, sóng gần, bƣớc sóng (315-400nm) và tần số khoảng 1014 Hz o UV-B sóng trung bình, bƣớc sóng (280- 315nm), tần số khoảng 1015 Hz o UV-C sóng ngắn, sóng xa, bƣớc sóng (100- 280nm), tần số khoảng 1016 Hz. Độ dài bƣớc sóng dƣới 180nm thƣờng bị hấp thu bởi không khí do đó ít gây biểu hiện sinh học [1]. Bức xạ hồng ngoại (IR)- bức xạ nhiệt Bức xạ hồng ngoại (IR) nằm ngoài ánh sáng đỏ của quang phổ ánh sáng nhìn thấy với bƣớc sóng từ 780-10. Là dạng bức xạ không ion hóa, nhƣng năng lƣợng thấp hơn so với UVR.

Đƣợc chia thành 3 loại: o IR-A (780-1.400nm) hồng ngoại gần, tần số khoảng 1014 Hz o IR-B (1.000nm) hồng ngoại trung bình, tần số khoảng 1014 Hz o IR-C (3µm-1.000µm) hồng ngoại xa, tần số khoảng 1011 đến 1014 Hz Phần lớn năng lƣợng mặt trời thuộc vùng hồng ngoại. Tất cả các vật có nhiệt độ trên không độ tuyệt đối phát ra tia hồng ngoại. Bức xạ hồng ngoại còn đƣợc gọi là bức xạ nhiệt hoặc nhiệt bức xạ đƣợc sinh ra từ bất kì vật nóng nào. Những vật nóng nhƣ động cơ nóng, kim loại nóng chảy, lò đúc, nhƣ bếp 8 lò, bóng đèn sợi đốt, hệ thống sƣởi ấm … phát ra bức xạ nhiệt thuộc vùng hồng ngoại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ