Khảo sát hiện trạng hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa Đại Phước TP HCM

Khảo sát hiện trạng hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa Đại Phước, TP HCM, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc

1.2. Quy chế kê đơn

1.3. Đối tượng áp dụng. Nguyên tắc kê đơn thuốc

1.4. Hình thức kê đơn thuốc

1.5. Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc. Những yêu cầu về kê đơn tốt

1.6. Các tiêu chí đánh giá việc kê đơn thuốc

1.7. Hoạt động dược lâm sàng tại Việt Nam

1.8. Điều kiện của dược sĩ dược lâm sàng

1.9. Điều kiện đảm bảo về nhân lực và cơ sở vật chất

1.10. Nhiệm vụ chung của dược sĩ dược lâm sàng

1.11. Các nhiệm vụ tại khoa lâm sàng

1.12. Mối quan hệ của dược sĩ lâm sàng và bác sĩ

1.13. Hậu quả của việc dùng thuốc không đúng chỉ định

1.14. Giới thiệu sơ lược về phòng khám đa khoa Đại Phước

1.14.1. Giới thiệu sơ lược

1.14.2. Nhiệm vụ của phòng khám đa khoa Đại Phước

1.14.3. Mô hình tổ chức

1.14.4. Chức năng, nhiệm vụ khoa dược

1.15. Hoạt động kê đơn tại phòng khám Đại Phước

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm. Cỡ mẫu và cách lấy mẫu

2.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm chung về bệnh nhân thăm khám

3.2. Giới tính, độ tuổi và nơi cư trú của bệnh nhân

3.3. Hình thức thăm khám

3.4. Các bệnh thường gặp ở các bệnh nhân

3.5. Thực hiện chỉ tiêu về hình thức kê đơn

3.6. Thực hiện quy định về ghi thông tin bệnh nhân

3.7. Thực hiện quy định về thông tin liên quan đến bác sĩ kê đơn

3.8. Thực hiện quy định về ghi thông tin thuốc

3.9. Tình hình kê đơn thuốc nói chung và kê đơn kháng sinh nói riêng

3.10. Phân loại các nhóm thuốc được sử dụng và số lượng thuốc trong đơn

3.11. Kê đơn kháng sinh tại phòng khám. Tương tác và trùng lặp thuốc

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Khảo sát các chỉ tiêu về giám sát kê đơn ngoại trú

4.2. Khảo sát và thống kê đơn thuốc, đặc biệt là đơn kháng sinh

4.3. Đánh giá các tương tác/trùng lặp thuốc tại phòng khám Đại Phước

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hoạt động giám sát kê đơn

Hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám đa khoa Đại Phước là một phần quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và hiệu quả trong điều trị cho bệnh nhân. Theo Thông tư 52/TT-BYT của Bộ Y tế, việc giám sát kê đơn không chỉ giúp kiểm soát việc sử dụng thuốc mà còn đảm bảo rằng các bác sĩ tuân thủ quy định trong việc kê đơn thuốc. Việc thực hiện hoạt động giám sát này tại phòng khám Đại Phước đã cho thấy sự tuân thủ cao trong việc ghi thông tin bệnh nhân và bác sĩ kê đơn. Đặc biệt, tỷ lệ ghi thông tin đạt 100% cho thấy sự nghiêm túc trong việc thực hiện quy định. Tuy nhiên, việc phát hiện các tương tác thuốc hay trùng lặp thuốc chỉ chiếm tỷ lệ dưới 15%, điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong việc theo dõi và phát hiện các vấn đề liên quan đến kê đơn.

1.1. Tình hình kê đơn tại phòng khám

Trong giai đoạn khảo sát từ 01/06/2018 đến 31/08/2018, phòng khám đã tiếp nhận 26.075 đơn thuốc ngoại trú. Số liệu cho thấy rằng số thuốc trung bình trong mỗi đơn là 3 thuốc, với rất ít đơn có từ 10 thuốc trở lên (0,1%). Điều này cho thấy rằng các bác sĩ tại phòng khám đã thực hiện việc kê đơn một cách hợp lý, tránh tình trạng kê quá nhiều thuốc trong một đơn. Tuy nhiên, việc phát hiện các tương tác thuốc vẫn còn hạn chế, cho thấy cần có sự chú ý hơn nữa trong việc theo dõi các tương tác có thể xảy ra giữa các loại thuốc được kê đơn.

II. Phân tích hoạt động giám sát kê đơn

Hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám Đại Phước được thực hiện thông qua việc thu thập và phân tích thông tin từ các đơn thuốc. Việc này không chỉ giúp đánh giá chất lượng kê đơn mà còn giúp phát hiện các vấn đề tiềm ẩn trong việc sử dụng thuốc. Theo kết quả khảo sát, việc ghi thông tin bệnh nhân và bác sĩ kê đơn đạt tỷ lệ 100%, cho thấy sự tuân thủ quy định cao. Tuy nhiên, việc phát hiện các tương tác thuốc chỉ chiếm tỷ lệ dưới 15%, điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong việc theo dõi và phát hiện các vấn đề liên quan đến kê đơn. Việc sử dụng phần mềm để theo dõi và phân tích các tương tác thuốc là một bước đi đúng hướng, nhưng cần được thực hiện thường xuyên và liên tục để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

2.1. Đánh giá chất lượng kê đơn

Chất lượng kê đơn tại phòng khám được đánh giá thông qua việc tuân thủ các quy định trong Thông tư 52/TT-BYT. Kết quả cho thấy rằng hầu hết các đơn thuốc đều ghi đầy đủ thông tin cần thiết, từ thông tin bệnh nhân đến thông tin thuốc. Tuy nhiên, việc phát hiện các tương tác thuốc và trùng lặp thuốc vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong việc theo dõi và phát hiện các vấn đề liên quan đến kê đơn. Việc nâng cao nhận thức của bác sĩ về tầm quan trọng của việc phát hiện các tương tác thuốc sẽ góp phần nâng cao chất lượng kê đơn tại phòng khám.

III. Kết luận và kiến nghị

Hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám đa khoa Đại Phước đã thực hiện tương đối tốt từ khâu tiếp nhận đến cấp phát thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Việc sử dụng thuốc, đặc biệt là các nhóm kháng sinh, tuân theo tiêu chuẩn 5 đúng và phù hợp với phác đồ điều trị mà Bộ Y tế đưa ra. Tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao khả năng phát hiện các tương tác thuốc và trùng lặp thuốc. Đề xuất sử dụng phần mềm kê đơn và hướng dẫn bệnh nhân phân bố các lần dùng thuốc hoặc có các đề xuất thay thế biệt dược khác nhằm giảm bớt các tương tác/trùng lặp thuốc. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

3.1. Kiến nghị cải thiện hoạt động giám sát

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát kê đơn, cần có sự đầu tư vào công nghệ thông tin, đặc biệt là phần mềm quản lý kê đơn. Việc đào tạo cho các bác sĩ về tầm quan trọng của việc phát hiện các tương tác thuốc cũng là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong phòng khám để đảm bảo thông tin được truyền đạt đầy đủ và chính xác. Các biện pháp này sẽ giúp cải thiện chất lượng kê đơn và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc Dân số toàn cầu tăng nhanh, điều kiện vật chất đầy đủ, tuổi thọ ngày càng tăng. Tuy nhiên do sinh hoạt ăn uống thiếu khoa học, môi trường ô nhiễm và an toàn về thực phẩm ngày càng bị đe dọa đã trở thành nguyên nhân chủ yếu làm tăng nhu cầu về thuốc men chăm sóc sức khỏe con người [12].

Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng không nằm ngoài khuynh hướng chung của thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc trong một đơn… Những bất cập này đã và đang tồn tại trong hệ thống y tế và cần có các biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời nhằm hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và kinh tế [20]. Thuốc là “con dao hai lưỡi” vì bên cạnh lợi ích điều trị, cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân thì kèm theo đó có thể gây ra những phản ứng có hại ở nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng quy định, các phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi. Vấn đề sử dụng ít thuốc trong một đơn thuốc không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an toàn do tỷ lệ ADR và tương tác thuốc luôn tăng theo số lượng thuốc sử dụng [2], [4], [21]. Việc kê đơn nhiều thuốc trong một đơn thuốc là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tương tác thuốc [27].

Mặc dù bác sĩ kê đơn là nhằm mục đích chăm sóc điều trị bệnh nhân nhưng thực tế không có loại thuốc nào khi cho dùng lại không có rủi ro của nó. Vì vậy việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn đã và đang trở thành một vấn đề quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn mang tính toàn cầu. Theo nghiên cứu của WHO thì trên toàn thế giới có tới 50% bệnh nhân sử dụng thuốc không phù hợp [30]. Thách thức chủ yếu của công tác dược lâm sàng là làm sao giảm thiểu đến mức tối đa những tác dụng đối nghịch của thuốc.

Theo báo cáo tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Ninh Hòa năm 2012 các thuốc sử dụng tại bệnh viện nằm trong 17 nhóm thuốc của danh mục thuốc bệnh viện năm 2012 như sau: nhóm chống ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ 57,8%; nhóm thuốc tim mạch nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 12,4%; 3 Luan van nhóm thuốc tiêu hóa nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 6,1%; các nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm đứng thứ tư chiếm tỷ lệ 3,9%. Các nhóm khác còn lại chiếm 19,7% và thấp nhất là nhóm thuốc chẩn đoán ít nhất chiếm tỷ lệ 0,2% [15]. Đơn thuốc là căn cứ để dược sĩ cung cấp thuốc và là cơ sở để bệnh nhân sử dụng điều trị bệnh. Những sai sót trong kê đơn sẽ gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc cho bệnh nhân.

Có tới 80 - 90% thầy thuốc nghĩ rằng mỗi triệu chứng ở bệnh nhân cần phải điều trị bằng một loại thuốc riêng biệt nên đã kê đơn nhiều loại thuốc. Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh [18]. Cũng như trong trường hợp sử dụng các nhóm thuốc kháng sinh, với những nước đang phát triển như Việt Nam, kháng sinh là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong [10]. Theo 1 khảo sát trong số 873 báo cáo về các ADR trong các nhóm thuốc được sử dụng tại một bênh viện thì số lượng ADR chiếm nhiều nhất vẫn là kháng sinh (449), đặc biệt là kháng sinh nhóm batalactam (25), sau đến nhóm hạ sốt giảm đau chống viêm (110), thuốc chống lao (99), thuốc thần kinh tâm thần (42), dịch truyền (33), thuốc tê - mê (16), corticoid và vitamin (11), thuốc giãn cơ (10), vaccin (9), thuốc đông y (27) [17].

Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng của nước ta chiếm 37,7% [9]. Thống kê các báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện của Bộ Y tế cho thấy rằng kháng sinh chiếm khoảng 36% tổng chi phí mua thuốc, hóa chất [19]. Kê đơn vitamin, thuốc tiêm khi không cần thiết gây lãng phí cũng cần phải nói tới. Kê vitamin có thể đã thành thói quen của bác sĩ, hoặc đôi khi bệnh nhân đòi hỏi các bác sĩ kê đơn trong khi thực chất bệnh nhân không cần dung tới thuốc.

Tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa, số đơn kê vitamin chiếm tỷ lệ 42,8% [16]. Bên cạnh đó, mặc dù Quy chế kê đơn của Bộ Y tế đã quy định việc ghi tên thuốc: kê tên hoạt chất hoặc ghi tên biệt dược kèm tên hoạt chất trong ngoặc đơn; ghi địa chỉ chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn, xã… [11], nhưng nhiều đơn thuốc 4 Luan van được ghi không đúng mẫu quy định của Bộ Y tế. Theo nghiên cứu tại bệnh viện E, hoạt động kê đơn tại bệnh viện E năm 2009 còn nhiều sai sót. 88,67% số đơn không ghi đầy đủ tên, tuổi, chẩn đoán và ngày kê đơn, 22% đơn ghi không rõ liều dùng, cách dùng, 40% đơn không ghi thời gian dùng, 85,33% số đơn không ghi đầy đủ họ tên, chữ ký của bác sĩ và chỉ có 30,86% số thuốc được kê tên generic.

Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị cũng phản ánh tỷ lệ sai sót trong kê đơn thuốc ngoại trú đối với các thuốc thuộc diện quản lý đặc biệt là 80%, 53,3% ghi sai sót về số lượng thuốc, sai sót kê đơn quá ngày tối đa cho phép chiếm 57,7% [14]. Ghi đơn thuốc theo tên biệt dược, không ghi theo tên gốc, kê các thuốc đắt tiền, hoặc kê các thuốc được tiếp thị còn tồn tại trong một số bộ phận thầy thuốc. Năm 2012, chỉ có 24% số thuốc trong đơn kê tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa được ghi bằng tên gốc [16]. Nghiên cứu tại bệnh xá Quân Dân y kết hợp Trường sỹ quan lục quân II năm 2013 thì tỷ lệ này là 39,9% [23].

Theo nghiên cứu ở bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc vào năm 2011 chỉ 8,5% số thuốc được ghi bằng tên gốc, còn lại hầu hết thuốc được kê bằng tên biệt dược [13]. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân Dân 115 hoạt động kê đơn thuốc vẫn còn nhiều sai sót trước can thiệp như sai sót về tên thuốc chiếm 42%, sai sót về liều dùng 21%, đường dùng 26%, sai sót nồng độ, hàm lượng 50%. Quy chế kê đơn Ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 52/2017/TT-BYT Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với những nội dung như sau [11]: 1. Đối tượng áp dụng Bác sĩ có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và có đăng ký hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Y sỹ có chứng chỉ hành nghề và có đăng ký nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 quy định tại thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. 5 Luan van Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh. Cơ sở bán lẻ thuốc, người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của cơ sở bán lẻ thuốc theo quy định của Luật Dược. Người bệnh và người đại diện của người bệnh có đơn thuốc.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến đơn thuốc và kê đơn. Nguyên tắc kê đơn thuốc Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh. Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh. Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic. Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: + Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế; + Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành; + Dược thư quốc gia của Việt Nam. Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị được quy định tại Điểm a Khoản 4 hoặc đủ sử dụng nhưng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày, trừ trường hợp quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư. Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sĩ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh.

6 Luan van Bác sĩ, y sỹ tại cơ sở khám chữa bệnh tuyến 4 được khám chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh mục kỹ thuật ở tuyến 4 (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám chữa bệnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt). Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sỹ kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh. Không được kê vào đơn thuốc các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 Luật dược, cụ thể: + Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; + Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam; + Thực phẩm chức năng; + Mỹ phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát hiện trạng hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa Đại Phước TP HCM" của tác giả Hoàng Phan Uyển Thanh, dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Xuân Đào, thuộc Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành, tập trung vào việc đánh giá tình hình giám sát kê đơn thuốc tại một phòng khám đa khoa ở TP.HCM. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình kê đơn thuốc mà còn chỉ ra những vấn đề cần cải thiện trong việc quản lý và cung ứng thuốc, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của bệnh nhân, và Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC, cung cấp thông tin về phương pháp định lượng dược liệu, có thể hỗ trợ trong việc nâng cao chất lượng kê đơn thuốc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý và cung ứng thuốc trong lĩnh vực y tế.