Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết dengue tại Bệnh viện E năm 2021

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết dengue tại bệnh viện E năm 2021, cung cấp thông tin hữu ích cho y tế.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

67
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Dịch tễ học sốt xuất huyết Dengue

1.2. Tình hình sốt xuất huyết Dengue

1.3. Vector truyền bệnh

1.4. Sự lây truyền của virus Dengue. Vaccine và các biện pháp phòng ngừa

1.5. Cơ chế bệnh sinh của sốt xuất huyết dengue

1.6. Diễn biến của bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.7. Cận lâm sàng

1.8. Thay đổi chức năng gan ở bệnh nhân SXHD

1.9. Sự biến đổi chỉ số chức năng gan

1.10. Ảnh hưởng của thay đổi chức năng gan trên lâm sàng

1.11. Chẩn đoán và điều trị SXHD

1.12. Chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue

1.13. Điều trị sốt xuất huyết Dengue

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.8. Nội dung nghiên cứu

2.9. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.10. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

3.2. Tỉ lệ giữa hai nhóm có DHCB và không có DHCB

3.3. Một số đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

3.4. Đặc điểm lâm sàng của các đối tượng tham gia nghiên cứu

3.5. Một số đặc điểm cận lâm sàng của các đối tượng tham gia nghiên cứu

3.6. Đặc điểm chỉ số AST, ALT và một số yếu tố liên quan

3.7. Đặc điểm chỉ số AST, ALT

3.8. Mức độ tăng AST, ALT ở các đối tượng nghiên cứu

3.9. Mối tương quan giữa số lượng tiểu cầu và chỉ số AST, ALT ở bệnh nhân SXHD

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu. Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của các đối tượng tham gia nghiên cứu. Triệu chứng lâm sàng

4.2. Triệu chứng cận lâm sàng

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bệnh án nghiên cứu

Phụ lục 2: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng của sốt xuất huyết dengue

Sốt xuất huyết dengue (SXHD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus dengue gây ra, với triệu chứng lâm sàng đa dạng. Các triệu chứng thường gặp bao gồm sốt cao đột ngột, nhức đầu, đau cơ, và xuất huyết dưới da. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện E năm 2021, tỷ lệ bệnh nhân có dấu hiệu cảnh báo (DHCB) chiếm một phần đáng kể. Triệu chứng lâm sàng có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng, và việc nhận diện sớm các dấu hiệu này là rất quan trọng để điều trị kịp thời. Nghiên cứu cho thấy, những bệnh nhân có triệu chứng nặng thường có mức độ tăng men gan (AST, ALT) cao, cho thấy sự tổn thương gan nghiêm trọng. Việc theo dõi triệu chứng lâm sàng và các dấu hiệu cảnh báo giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả.

1.1. Triệu chứng lâm sàng điển hình

Triệu chứng lâm sàng của SXHD thường bắt đầu với sốt cao, kéo dài từ 2 đến 7 ngày. Bệnh nhân có thể cảm thấy đau đầu, đau cơ, và có dấu hiệu xuất huyết như chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi. Nghiệm pháp dây thắt dương tính là một chỉ số quan trọng để xác định bệnh. Trong giai đoạn nguy hiểm, bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như đau bụng dữ dội, gan to, và có thể dẫn đến sốc. Việc nhận diện các triệu chứng này kịp thời có thể giúp giảm thiểu nguy cơ tử vong do SXHD.

II. Đặc điểm cận lâm sàng của sốt xuất huyết dengue

Cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân mắc SXHD. Các xét nghiệm cận lâm sàng thường được thực hiện bao gồm xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm chức năng gan, và các chỉ số đông máu. Kết quả cho thấy, trong giai đoạn sốt, số lượng tiểu cầu có thể giảm dần, trong khi hematocrit có thể tăng lên trong giai đoạn nguy hiểm. Nghiên cứu tại Bệnh viện E cho thấy, mức độ tăng men gan (AST, ALT) thường liên quan đến mức độ nặng của bệnh. Việc theo dõi các chỉ số này giúp bác sĩ đánh giá tình trạng bệnh nhân và điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp.

2.1. Các chỉ số cận lâm sàng quan trọng

Các chỉ số cận lâm sàng như AST, ALT, và số lượng tiểu cầu là những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tình trạng bệnh nhân mắc SXHD. Nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân có mức AST, ALT tăng cao thường có nguy cơ biến chứng nặng. Sự thay đổi của các chỉ số này có thể phản ánh tình trạng tổn thương gan và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Việc theo dõi cận lâm sàng không chỉ giúp chẩn đoán mà còn hỗ trợ trong việc quản lý và điều trị bệnh nhân hiệu quả.

III. Chẩn đoán và điều trị sốt xuất huyết dengue

Chẩn đoán SXHD dựa trên triệu chứng lâm sàng và kết quả cận lâm sàng. Việc nhận diện sớm các dấu hiệu cảnh báo là rất quan trọng để điều trị kịp thời. Điều trị chủ yếu là hỗ trợ, bao gồm việc cung cấp dịch và theo dõi tình trạng bệnh nhân. Nghiên cứu tại Bệnh viện E cho thấy, việc quản lý bệnh nhân có dấu hiệu cảnh báo cần được thực hiện cẩn thận để tránh các biến chứng nghiêm trọng. Các biện pháp phòng ngừa như tiêm vaccine và quản lý môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự lây lan của virus dengue.

3.1. Phương pháp điều trị hiệu quả

Điều trị SXHD chủ yếu là điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Bệnh nhân cần được cung cấp đủ dịch để tránh tình trạng sốc. Việc theo dõi sát sao các chỉ số cận lâm sàng như AST, ALT, và số lượng tiểu cầu là rất cần thiết. Nghiên cứu cho thấy, những bệnh nhân có dấu hiệu cảnh báo cần được điều trị tại cơ sở y tế để đảm bảo an toàn. Các biện pháp phòng ngừa như tiêm vaccine và quản lý môi trường cũng cần được chú trọng để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học sốt xuất huyết Dengue 1. Tình hình sốt xuất huyết Dengue 1. Trên thế giới Sốt xuất huyết Dengue là bệnh do muỗi truyền.

Vector truyền bệnh là muỗi Aedes Aegypti và Aedes Albopictus [41]. Khí hậu thuận lợi cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trong những thế kỉ 18, 19 và đầu thế kỉ 20 đã tạo điều kiện phát triển cho muỗi và là nguyên nhân bùng nổ những vụ dịch lớn trong khoảng thời gian này [27]. Theo báo cáo ngày 13/8/2020 của WHO, nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới vẫn tiếp tục ghi nhận số mắc và tử vong cao: − Malaysia: 66.199 mắc, 109 tử vong.160 mắc, 200 tử vong.155 mắc, 9 tử vong.450 mắc, 5 tử vong. − Riêng khu vực châu Mỹ La Tinh, đã ghi nhận tổng số 1.477 mắc, 725 tử vong.

Trong đó cao nhất tại Brazil (1.560/36 tử vong), Mexico (55. [3] Bệnh lưu hành ở vùng nhiệt đới xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.1: Biểu đồ số ca mắc, tỷ lệ mắc SXHD trên ứng dụng số liệu SXHD của WHO giai đoạn 2005-2017.2: Biểu đồ số ca tử vong, tỷ lệ tử vong do SXHD trên ứng dụng số liệu SXHD của WHO giai đoạn 2005-2017.

EURO: Châu Âu PAHO: Châu Mỹ SEARO: Đông Nam Á WPRO: Tây Thái Bình Dương 4 1. Tại Việt Nam Trên toàn thế giới có 2,5 tỉ người sống trong khu vực có nguy cơ mắc SXHD trong đó 1,3 tỉ người thuộc về các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ mắc cao trong khu vực [3].3: Biểu đồ số mắc, tử vong do sốt xuất huyết tại Việt Nam giai đoạn 1980-2020[3] Tại Việt Nam, dịch bệnh có xu hướng xảy ra vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 và tập trung ở khu vực miền Nam và miền Trung. SXHD chủ yếu xảy ra ở nhóm người trên 15 tuổi, và khác nhau giữa các vùng miền: ở miền Nam, 57% số trường hợp là người trên 15 tuổi trong khi đó ở miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên gặp đa số ở người lớn [3].680 ca nhiễm SXHD (61 người tử vong), trong tổng số 647 trường hợp chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học cho thấy kiểu huyết thanh chiếm ưu thế là DEN-1 (284 [42%] DEN-1, 217 [32%] DEN-2, 118 [18%] DEN-4 và 55 [8%] DEN-3) [13]. Nghiên cứu trên các bệnh nhân mắc SXHD tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2004-2014 thấy DEN-1 chiếm ưu thế trong những năm 2006,2007, 2009, 2014; DEN-2 chiếm ưu thế vào năm 2004, 2011; DEN-3 vào năm 2010 và DEN-4 là 2012 [6].

5 Như vậy có thể thấy ở Việt Nam lưu hành cả 4 loại type huyết thanh của virus Dengue, và tỉ lệ từng loại rất thay đổi theo từng giai đoạn cũng như giữa các vùng lãnh thổ khác nhau. Ước tính rằng trong năm 2016, chi phí trung bình cho mỗi bệnh nhân mắc SXHD là 115 đến 287 USD, tổng chi phí hàng năm là 94,87 triệu USD [28]. Năm 2011, chính phủ đã chi 5,57 triệu đô la Mỹ cho việc kiểm soát vector, trong đó có 1,08 triệu đô la Mỹ cho giám sát và 0,58 triệu đô la Mỹ cho công tác truyền thông giáo dục [28]. Năm 2021, theo ghi nhận báo cáo của WHO, Việt Nam có khoảng 70.944 trường hợp mắc và 22 trường hợp tử vong do SXHD[44].

Với tình hình dịch diễn ra phức tạp và có xu hướng ngày càng tăng hiện nay, đã đặt ra một áp lực rất lớn cho cả nền kinh tế và chăm sóc sức khỏe, đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp hiệu quả. Virus Dengue Bệnh SXHD do muỗi truyền, tác nhân gây bệnh là virus Dengue, một thành viên của nhóm Flavivirus, thuộc họ Flaviviridae. Virus Dengue hình cầu, đường kính 3550nm, chứa một sợi ARN. Bộ gen của virus có chiều dài 11.644 nucleotides, mã hóa cho 3 protein cấu trúc bao gồm protein C (lõi capsid), protein M (protein màng), protein E (protein vỏ bọc) và 7 protein phi cấu trúc (non- structural protein – NS) bao gồm NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5.

Các protein cấu trúc là thành phần của hạt virus trưởng thành, các protein phi cấu trúc chỉ biểu hiện trong tế bào bị nhiễm và không được đóng gói để tạo thành hạt trưởng thành và chúng tham gia vào quá trình nhân lên của virus [16]. Dựa vào sự khác nhau về kháng nguyên và tính chất sinh học, người ta chia DENV thành 4 type huyết thanh bao gồm DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4 [50]. Vector truyền bệnh Hình 1.4: Hình vẽ muỗi Aedes aegypti DENV lây truyền qua vật chủ trung gian là muỗi Aedes, đây cũng là loài muỗi truyền bệnh Zika và Chikungunya. Hai loài hay gặp và đóng vai trò quan trọng nhất là Aedes agegypti (Ae.

Aegypti) và Aedes alpopictus (Ae. Vật chủ Ổ chứa virus là động vật linh trưởng và người bệnh. Khi nhiễm bất kì một trong 4 type huyết thanh nào sẽ có miễn dịch suốt đời với kiểu huyết thanh đó. Có sự miễn dịch chéo giữa các type huyết thanh của Dengue, và sự miễn dịch này chỉ tồn tại 2 đến 3 tháng sau lần nhiễm trùng nguyên phát, là một trong những yếu tố làm tăng mức độ nặng của bệnh.

Mức độ nghiêm trọng của bệnh không chỉ phụ thuộc vào hệ miễn dịch của mỗi người mà còn liên quan đến các yếu tố như nhiễm trùng thứ cấp, tuổi, dân tộc, bệnh lý kèm theo,. Sự lây truyền của virus Dengue. Khi muỗi cái hút máu người bị bệnh, DENV sẽ theo máu truyền sang muỗi. Ngay sau khi hút máu người nhiễm bệnh, muỗi cái đã có khả năng truyền bệnh cho người lành khác.

Virus nhân lên trong tuyến nước bọt của muỗi trong khoảng 8 đến 12 ngày và muỗi vẫn bị nhiễm bệnh cho đến hết đời, có nghĩa là muỗi vẫn có khả năng truyền bệnh trong hết vòng đời của nó (5-6 tháng). Virus cũng có mặt trong cơ quan sinh dục của muỗi và xâm nhập vào trong trứng đã 7 phát triển tại thời điểm sinh sản vì vậy muỗi cái có thể truyền bệnh cho thế hệ sau.5: Sự lây truyền của virus Dengue trong tự nhiên [21]. Vaccine và các biện pháp phòng ngừa Do chưa có vaccine cũng như chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và hiệu quả nên việc phòng bệnh giữ một vai trò quan trọng và không kém phần hiệu quả. Các biện pháp can thiệp vào môi trường như quản lý tốt nguồn nước, loại trừ nơi sinh sản của muỗi.

Các biện pháp bảo vệ cá nhân cũng nên được chú trọng như mặc quần áo dài để phòng muỗi đốt, ngủ màn đặc biệt là vào ban ngày, sử dụng các thuốc xịt muỗi, các phương pháp thiên nhiên để đuổi muỗi như sử dụng tinh dầu, lá xả, hương muỗi, …. Các biện pháp sinh học dựa trên chu kì sinh sản của muỗi, các mối quan hệ trong tự nhiên như con mồi, thiên địch, … cũng được áp dụng để làm giảm số lượng quần thể muỗi. Việc sử dụng hóa chất diệt muỗi một cách đồng bộ ở các khu dân cư, trường học, bệnh viện, công ty, …trong những mùa cao điểm của muỗi là một biện pháp hiệu quả, đơn giản và đang được áp dụng rộng rãi hiện nay. Cơ chế bệnh sinh của sốt xuất huyết dengue Cơ chế bệnh sinh của SXHD đến nay vẫn chưa thực sự sáng tỏ, có rất nhiều nghiên cứu, giả thuyết được đặt ra về cơ chế của bệnh, Tuy nhiên đều có điểm chung là liên quan đến động lực của virus và đáp ứng của cơ thể.

Kết quả là dẫn tới hai rối loạn cơ bản trong SXHD là thoát huyết tương và rối loạn quá 8 trình đông máu, từ đó dẫn tới những biểu hiện lâm sàng của bệnh và trên xét nghiệm [25]. Các sản phẩm của quá trình miễn dịch như cytokin, các chất trung gian hóa học bao gồm TNF, IL-2, IL-6, IFN-g, …dẫn tới giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây thoát huyết tương mà chủ yếu là albumin vào khoảng gian bào. Khi quá trình này diễn ra quá mức sẽ dẫn đến giảm protein huyết thanh và cô đặc máu, gây giảm khối lượng tuần hoàn và nặng hơn là dẫn tới sốc, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong SXHD. Rối loạn đông máu là hậu quả của 3 quá trình bao gồm: giảm tiểu cầu, biến đổi thành mạch và rối loạn yếu tố đông máu gây ra các hình thái xuất huyết trên lâm sàng.

Hai quá trình rối loạn này tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, tình trạng thoát huyết tương làm quá trình rối loạn đông máu nặng hơn và ngược lại. Diễn biến của bệnh sốt xuất huyết Dengue Bệnh SXHD có biểu hiện lâm sàng đa dạng từ không có triệu chứng đến triệu chứng lâm sàng nặng nề và có thể dẫn tới tử vong nếu không điều trị đúng cách. Sau khoảng thời gian ủ bệnh từ 3- 15 ngày không triệu chứng, bệnh diễn biến đột ngột với 3 giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục [37].6: Diễn biến của bệnh sốt xuất huyết dengue [2] 9 1. Giai đoạn sốt: Thường kéo dài từ 2 đến 7 ngày với các triệu chứng kèm theo: − Sốt cao đột ngột, liên tục − Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn − Da xung huyết − Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt.

− Nghiệm pháp dây thắt dương tính. − Thường có chấm xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng và chảy máu mũi. Bên cạnh đó ta có thể bắt gặp gan to và mềm, sau vài ngày bị sốt, chảy máu âm đạo ở phụ nữ, …Giai đoạn này khó phân biệt giữa SXHD và sốt do nguyên nhân virus khác vì vậy nghiệm pháp dây thắt giúp ta nghĩ đến SXHD. Ngoài ra cũng khó phân biệt giữa các ca SXHD nặng và không nặng, vì vậy theo dõi các dấu hiệu cảnh báo là vô cùng quan trọng.

Giai đoạn nguy hiểm Hầu hết bệnh nhân hồi phục sau giai đoạn sốt mà không bước vào giai đoạn nguy hiểm của bệnh. Giai đoạn này thường xảy ra vào ngày thứ 3 - 7 của bệnh và kéo dài 24- 48 giờ. • Người bệnh còn sốt hay đã giảm sốt. • Có thể có các biểu hiện sau: − Đau bụng nhiều và liên tục, nhất là ở vùng gan.

− Vật vã, li bì, lừ đừ. − Gan to > 2cm dưới bờ sườn, có thể đau. − Tràn dịch màng phổi, màng bụng, phù nề mi mắt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của sốt xuất huyết dengue tại Bệnh viện E 2021" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các triệu chứng và phương pháp chẩn đoán bệnh sốt xuất huyết dengue, một căn bệnh đang gia tăng tại nhiều khu vực. Tác giả đã phân tích các đặc điểm lâm sàng, từ triệu chứng điển hình đến các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết để xác định tình trạng bệnh nhân. Thông qua bài viết, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách nhận diện và quản lý bệnh, từ đó nâng cao nhận thức và khả năng phòng ngừa.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2", nơi bạn có thể tìm hiểu về mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và bệnh lý. Ngoài ra, bài viết "Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021" sẽ giúp bạn nắm bắt được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị trong quản lý bệnh mãn tính. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis" sẽ mang đến cho bạn cái nhìn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.