Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số: 9760101.01) với đề tài "Năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở tại thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Trang thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Thái Lan và TS. Pauline Meemeduma, hoàn thành và bảo vệ năm 2024.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em vào năm 1990. Chủ trương chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em (BVTE) được xác định có tính chiến lược lâu dài qua Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị, Luật Trẻ em năm 2016, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021–2030. Dù hệ thống pháp lý từng bước hoàn thiện, tình hình bạo lực và xâm hại trẻ em vẫn diễn biến phức tạp:

  • Theo số liệu của Cục Trẻ em (2024), dân số trẻ em cả nước chiếm quy mô lớn, trong đó tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chiếm 6,76%.
  • Giai đoạn 2019–2023, cả nước xảy ra 7.483 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục chiếm trên 80% (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, 2024). Từ năm 2020 đến tháng 9/2023, ghi nhận 7.883 trẻ em bị bạo lực, xâm hại (trung bình gần 6 vụ/ngày; nạn nhân là trẻ em gái chiếm 86%, trẻ em trai chiếm 14%).
  • Tại thành phố Hà Nội, có 12.765 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và 30.501 trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, 2023).

Thực tiễn cho thấy công tác BVTE cấp xã/phường còn bị động. Báo cáo của Chính phủ (2022) và khuyến cáo của UNICEF (2019b) chỉ rõ cán bộ cơ sở xử lý thông tin, tố giác chậm do thiếu hụt kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ; lực lượng mỏng, thường xuyên luân chuyển do sắp xếp bộ máy; tỷ lệ cán bộ chuyên trách giảm và phần lớn làm việc kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo bài bản về công tác xã hội (CTXH) và quyền trẻ em. Cả nước có khoảng 230.000 cán bộ, công chức, viên chức và cộng tác viên CTXH nhưng mới chỉ đáp ứng 30% nhu cầu trợ giúp; tỷ lệ nhân sự có bằng cấp chuyên môn chỉ đạt từ 10% đến dưới 30% (Nguyễn Thị Thái Lan, 2021).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận quản trị nhân sự tổng quát hoặc mô tả chức năng, vai trò đơn lẻ của người làm CTXH; chưa có công trình nghiên cứu thực nghiệm đánh giá toàn diện năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và xây dựng khung năng lực BVTE chuẩn hóa phù hợp với bối cảnh cơ sở tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Xây dựng cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực và xây dựng khung năng lực BVTE cho đội ngũ này tại thành phố Hà Nội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thu thập, tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế về năng lực BVTE; xây dựng cơ sở lý luận và thao tác hóa các khái niệm công cụ.
    2. Mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở tại Hà Nội.
    3. Đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở.
    4. Xác định các năng lực cần thiết và đề xuất các giải pháp cùng khung năng lực BVTE ứng dụng vào thực tiễn cơ sở.

Câu hỏi nghiên cứu

a) Thực trạng năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở tại thành phố Hà Nội hiện nay như thế nào?
b) Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở tại thành phố Hà Nội?
c) Người làm CTXH cấp cơ sở cần có những năng lực BVTE gì?
d) Cần đề xuất các giải pháp và khung năng lực BVTE cho người làm CTXH cấp cơ sở như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết 1: Người làm CTXH cấp cơ sở còn thiếu năng lực về kiến thức, kỹ năng về BVTE và thái độ đối với thân chủ.
  • Giả thuyết 2: Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm cá nhân, giáo dục và đào tạo, môi trường làm việc, yếu tố văn hóa có tác động cao đến năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở.
  • Giả thuyết 3: Cần phải xây dựng khung năng lực BVTE cho người làm CTXH cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở.
  • Phạm vi nội dung: Vận dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái, lý thuyết Học tập xã hội và mô hình năng lực ASK (Attitudes – Skills – Knowledge) để khảo sát kiến thức, kỹ năng, thái độ theo 3 cấp độ BVTE (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) và phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng.
  • Phạm vi khách thể: Người làm CTXH trong lĩnh vực BVTE có kinh nghiệm từ 01 năm trở lên làm việc tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã/phường/thị trấn và các cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH trực tiếp trên địa bàn (Trung tâm CTXH và Quỹ Bảo trợ trẻ em Hà Nội, Tổng đài Quốc gia BVTE 111, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển). Khách thể phỏng vấn sâu gồm cán bộ quản lý cấp xã, lãnh đạo trung tâm/cơ sở dịch vụ CTXH và đại diện gia đình/người chăm sóc trẻ em.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên địa bàn 30 quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý dữ liệu trong giai đoạn 2020–2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 5 nhóm chủ đề:

1. Nghiên cứu về lịch sử phát triển CTXH và BVTE

Các công trình quốc tế của Stuart (2019), James Midgley (1996), Philippe Ariès (1960 viện dẫn bởi Jabeen, 2019), Tahira Jabeen (2013) và John Myers (2008, 2010) chỉ ra tiến trình CTXH chuyển từ hoạt động từ thiện, cứu trợ sang chuyên nghiệp hóa gắn liền với bảo vệ an sinh trẻ em. Tại Việt Nam, quá trình chuyên nghiệp hóa được phân tích qua các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Lan (2012) về Đề án 32 của Chính phủ, Whitaker (2012), Khadijah Madihi và Sahra Brubeck (2018), cùng các báo cáo của UNICEF (2019c).

2. Nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm của người làm CTXH

Statham, Cameron và Mooney (2006) xác định 7 vai trò: biện hộ, tham vấn, quản lý trường hợp, cộng tác, đánh giá nguy cơ, quản lý chăm sóc và kiểm soát xã hội. Dominelli (2009) và IFSW (2016) mở rộng vai trò điều phối, bảo đảm quyền con người và công bằng xã hội. Tại Việt Nam, Điều 72 Luật Trẻ em năm 2016 quy định 6 trách nhiệm can thiệp của nhân sự bảo vệ trẻ em cấp xã. Bùi Thị Xuân Mai (2014) và Thảo Lan (2021) phân tích vai trò kết nối, giáo dục và trị liệu tâm lý. Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Liên (2018) mới chỉ tập trung vào 5 vai trò can thiệp xâm hại tình dục, chưa phân tích vai trò quản lý ca và điều phối nguồn lực tại cộng đồng.

3. Nghiên cứu về tiêu chuẩn năng lực của người làm CTXH

Các nghiên cứu của Thomas Yan Man (2006), Brahim và cộng sự (2015), Ủy ban Châu Âu (CoRe, 2011), Hiệp hội Nhân viên CTXH Úc (AASW, 2020) và Hiệp hội Nhân viên CTXH Hoa Kỳ (NASW, 2012, 2017) khẳng định năng lực là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng, giá trị đạo đức và năng lực văn hóa. Tại Việt Nam, năng lực được quy định theo Thông tư số 26/2022/TT-BLĐTBXH (về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức CTXH) và Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH (về tiêu chuẩn cộng tác viên CTXH cấp xã).

4. Các khung năng lực BVTE trên thế giới và tại Việt Nam

Luận án phân tích cấu trúc của các khung năng lực tiêu biểu:

  • Khung CPHA (2023): Gồm 4 trụ cột: Đảm bảo can thiệp chất lượng; Phòng ngừa và giải quyết nguy cơ; Phát triển chiến lược BVTE; Hợp tác liên ngành.
  • Khung năng lực bang Victoria – Úc (2012): Xác định tiêu chuẩn thực hành qua bảng mô tả năng lực:
Nhóm phẩm chất / Năng lực Nội dung mô tả chuẩn hóa
Hiểu biết về sự phát triển của trẻ em Xác định các giai đoạn phát triển bình thường; áp dụng lý thuyết gắn bó và sang chấn trong thực hành
Xác định các nguy cơ đối với trẻ em Xác định yếu tố nguy cơ bị lạm dụng, sao nhãng; truyền đạt thông tin nguy cơ bằng lời và văn bản
Hiểu biết khung luật pháp Nắm vững luật về trẻ em, thanh niên, gia đình; thực thi đúng nguyên tắc và trách nhiệm pháp lý
Tự tin làm việc với các nhóm đặc thù Xử lý can thiệp với gia đình nghiện chất/nghiện rượu, gia đình có bạo lực, trẻ em bản địa
Hoạt động trong môi trường linh hoạt Sắp xếp khối lượng công việc, đề xuất chiến lược mới, kiểm tra kết quả định kỳ với các bên liên quan
Năng lực pháp lý và tố tụng Tham gia hoạt động tòa án, làm việc với cơ quan điều tra, chuẩn bị chứng cứ theo quy định
Giao tiếp và văn bản chuyên nghiệp Truyền đạt thông tin nguy cơ rõ ràng, soạn thảo báo cáo, thư tín, biên bản đúng quy chuẩn học thuật
  • Khung năng lực của Anh (Leicester, 2020): Thiết kế 3 tầng: Nhóm 1 cốt lõi (5 năng lực cho mọi vị trí); Nhóm 2 tuyến đầu (5 năng lực làm việc trực tiếp với trẻ); Nhóm 3 bổ sung (21 năng lực chuyên sâu).
  • Khung tập huấn tại Việt Nam (UNICEF, 2021): Định hình qua 5 nguyên tắc: tuân thủ pháp luật/chính sách; tuân thủ quy định tổ chức; làm việc an toàn với trẻ và gia đình; thực hành theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; giám sát rủi ro và đánh giá can thiệp.

5. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng

Tài liệu chỉ ra 4 nhóm yếu tố:

  1. Đặc điểm cá nhân: Kinh nghiệm (Nonaka, 1994; Alainati và cs, 2011), tính cách phù hợp công việc (Aetis Heromi và cs, 2016).
  2. Giáo dục và đào tạo: Áp lực khối lượng ca và sự mệt mỏi ra quyết định (Kirkman & Melrose, 2014), nhu cầu đào tạo lại (Shawna Lee và cs, 2013), khoảng cách giữa đào tạo nhà trường và thực tế (Save the Children Canada, 2007; UNICEF, 2019d).
  3. Môi trường làm việc: Trang thiết bị, hệ thống thông tin dữ liệu (Statham và cs, 2006; Hadiansah và cs, 2020), áp lực hành chính làm giảm thời gian tiếp xúc thân chủ (Jadwiga Leigh, 2018).
  4. Yếu tố văn hóa: Văn hóa tổ chức (Alainati và cs, 2011), niềm tin và giá trị văn hóa gia đình truyền thống (Pauline Meemeduma, 2019; Brahim và cs, 2015).

Khoảng trống giải quyết: Luận án khỏa lấp khoảng trống về mặt dữ liệu thực chứng tại địa bàn Thủ đô Hà Nội, chuyển dịch từ việc nghiên cứu chức năng hành chính sang đo lường năng lực hành vi thực tế, và xây dựng khung năng lực BVTE cấp cơ sở phân tầng đầu tiên tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết Hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory - Urie Bronfenbrenner): Luận án vận dụng lý thuyết này để xem xét năng lực của người làm CTXH không tách rời mà đặt trong các tương tác đa tầng: vi hệ thống (tương tác trực tiếp với trẻ và cha mẹ), trung hệ thống (mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường, trạm y tế, công an xã), ngoại hệ thống (chính sách của UBND cấp huyện, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội), và vĩ hệ thống (hệ thống pháp luật, chuẩn mực văn hóa, định kiến xã hội).
  2. Lý thuyết Học tập xã hội (Social Learning Theory): Giải thích cơ chế hình thành và biến đổi năng lực của nhân sự thông qua quan sát, trải nghiệm thực tiễn, thực hành có hướng dẫn và tương tác chuyên môn.
  3. Khung năng lực ASK (Attitudes – Skills – Knowledge): Khung phân tích nền tảng chia tách năng lực thành 3 thành tố: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skills), Thái độ/Hành vi (Attitudes).

Luận án thao tác hóa năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở thành hệ thống biến số quan sát:

  • Kiến thức: Hiểu biết pháp luật, chính sách, Công ước Quyền trẻ em; chương trình, đề án BVTE; đặc điểm tâm sinh lý trẻ em; quy trình cung cấp dịch vụ và quản lý ca; các giá trị đạo đức CTXH; vai trò trách nhiệm của cán bộ cơ sở.
  • Kỹ năng: Tư vấn pháp lý và chính sách; tham vấn tâm lý ban đầu; đánh giá nguy cơ tổn hại; kỹ năng làm việc với trẻ và gia đình; can thiệp khủng hoảng khẩn cấp; làm việc nhóm liên ngành; kết nối, chuyển gửi và giám sát dịch vụ.
  • Thái độ/Hành vi: Tuân thủ kỷ luật nghề nghiệp; bảo mật thông tin; đặt lợi ích tốt nhất của trẻ lên hàng đầu; tận tâm, kiên nhẫn, thấu hiểu; giữ gìn đoàn kết và tự chăm sóc sức khỏe tâm thần bản thân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích nội dung các văn bản pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội, Cục Trẻ em và các tài liệu của UNICEF.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát định lượng trên mẫu người làm CTXH và cán bộ làm công tác BVTE tại 30 quận/huyện/thị xã trên địa bàn Hà Nội. Thang đo sử dụng thang đo khoảng cách Likert đánh giá giá trị trung bình (ĐTB).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính từ lãnh đạo quản lý cấp xã, cán bộ phụ trách phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, chuyên gia CTXH, và đại diện phụ huynh/người chăm sóc trẻ em nhằm đối chiếu, kiểm chứng kết quả khảo sát bảng hỏi.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực CTXH và BVTE để hoàn thiện các tiêu chí của khung năng lực và các nhóm giải pháp đề xuất.
  • Kỹ thuật xử lý số liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê; thực hiện thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, ĐTB), phân tích phương sai (ANOVA) để kiểm tra sự khác biệt giữa các nhóm trình độ đào tạo, và Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) để xác định các nhóm yếu tố ảnh hưởng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng thuật lịch sử phát triển của CTXH trong mối liên hệ với an sinh trẻ em trên bình diện quốc tế và tại Việt Nam. Tác giả phân tích chi tiết các quy định pháp lý (Luật Trẻ em 2016, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH, Thông tư số 26/2022/TT-BLĐTBXH), đối chiếu kinh nghiệm xây dựng chuẩn năng lực của Hiệp hội CTXH Úc (AASW), Hiệp hội CTXH Hoa Kỳ (NASW), Khung CPHA (2023) và Khung bảo vệ trẻ em Anh (2020). Chương I chỉ ra khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn: Việt Nam chưa có khung năng lực BVTE chuẩn hóa cấp cơ sở và thiếu các công trình định lượng đo lường thực trạng năng lực cũng như các yếu tố tác động.

Chương II: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Tác giả xây dựng khung khái niệm công cụ: năng lực, bảo vệ trẻ em, năng lực BVTE, khung năng lực và người làm CTXH cấp cơ sở. Chương II phân tích việc ứng dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái của Bronfenbrenner và lý thuyết Học tập xã hội làm cơ sở phân tích đa chiều. Khung năng lực ASK được cụ thể hóa thành bộ công cụ khảo sát với các biến số về kiến thức, kỹ năng, thái độ gắn với quy trình 3 cấp độ bảo vệ trẻ em (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp). Chương này cũng trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu tại 30 quận/huyện của Hà Nội, các phương pháp thu thập dữ liệu (bảng hỏi, phỏng vấn sâu, chuyên gia) và kỹ thuật phân tích thống kê (ĐTB, ANOVA, EFA).

Chương III: Thực trạng năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở tại thành phố Hà Nội

Chương III trình bày bức tranh toàn diện về năng lực thực tế của người làm CTXH cấp cơ sở tại Hà Nội:

  • Trình độ đào tạo: Tỷ lệ nhân sự có bằng cấp chuyên ngành CTXH chiếm tỷ lệ rất thấp; phần lớn cán bộ cơ sở tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội khác hoặc hành chính, kinh tế, luật, dẫn đến khoảng cách lớn về kiến thức chuyên môn CTXH.
  • Tự đánh giá năng lực ASK:
    • Kiến thức: Điểm trung bình ở mức hiểu biết chính sách chung; kiến thức chuyên sâu về quy trình quản lý ca, kỹ thuật đánh giá nguy cơ sang chấn tâm lý đạt mức thấp.
    • Kỹ năng: Các kỹ năng hành chính (ghi chép, báo cáo, lưu trữ văn bản) đạt điểm trung bình khá; trong khi các kỹ năng can thiệp trực tiếp (tham vấn tâm lý chuyên sâu, can thiệp khẩn cấp trong các ca xâm hại tình dục, kỹ năng đối thoại với thân chủ trong tình huống xung đột) còn nhiều hạn chế.
    • Thái độ/Hành vi: Nhân sự cơ sở thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề cao, tôn trọng đạo đức nghề nghiệp, nhưng gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc và tự chăm sóc bản thân trước áp lực công việc.
  • Khả năng thực hiện theo 3 cấp độ: Thực hiện tốt nhất ở cấp độ phòng ngừa (tuyên truyền, phổ biến văn bản pháp luật); cấp độ hỗ trợ đạt mức trung bình; cấp độ can thiệp (xử lý tình huống khẩn cấp, đưa trẻ đi cấp cứu, bố trí nơi tạm trú an toàn, phối hợp điều tra) đạt kết quả thấp nhất và bộc lộ nhiều lúng túng.
  • Kiểm định ANOVA: Phân tích kiểm định phương sai khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực BVTE giữa các nhóm có trình độ đào tạo CTXH khác nhau (nhóm được đào tạo bài bản về CTXH thể hiện điểm số năng lực kỹ năng và kiến thức quản lý ca vượt trội so với nhóm kiêm nhiệm hoặc chưa qua đào tạo).

Chương IV: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở

Chương IV phân tích thực nghiệm các nhân tố tác động đến năng lực thông qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và ma trận xoay nhân tố:

  • Nhóm yếu tố Đặc điểm cá nhân: Tuổi đời, thâm niên công tác, động lực cá nhân và sự đồng cảm tác động trực tiếp đến thái độ làm việc. Nhân sự làm việc lâu năm có kinh nghiệm xử lý tình huống nhưng dễ gặp tình trạng quá tải cảm xúc nếu thiếu kỹ năng tự cân bằng.
  • Nhóm yếu tố Giáo dục và Đào tạo: Việc tham gia các khóa tập huấn, bồi dưỡng định kỳ và mức độ sát thực của chương trình đào tạo đóng vai trò quyết định. Đa số các lớp tập huấn hiện nay còn nặng về lý thuyết hành chính, thiếu thực hành tình huống mô phỏng.
  • Nhóm yếu tố Môi trường làm việc: Khối lượng công việc lớn (phải kiêm nhiệm nhiều mảng công tác văn hóa – xã hội), thiếu cơ chế kiểm huấn chuyên môn (supervision), thiếu kinh phí và trang thiết bị hỗ trợ, cùng thủ tục hành chính phức tạp làm giảm thời gian cán bộ tiếp xúc trực tiếp với trẻ và gia đình.
  • Nhóm yếu tố Văn hóa: Định kiến xã hội coi bạo lực gia đình là "chuyện nội bộ gia đình", sự bất hợp tác từ phía người chăm sóc, và rào cản văn hóa ứng xử tại cộng đồng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả can thiệp, phát hiện ca của người làm CTXH.

Chương V: Các giải pháp và đề xuất khung năng lực bảo vệ trẻ em

Chương V đề xuất hệ thống giải pháp và Khung năng lực BVTE cấp cơ sở:

  • Giải pháp chính sách: Bổ sung vị trí việc làm chức danh người làm CTXH chuyên trách tại cấp xã; hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ và chế độ phụ cấp, đãi ngộ.
  • Giải pháp tổ chức thực hiện: Chuẩn hóa quy trình 3 giai đoạn: chuẩn bị tổ chức thực hiện (rà soát nguồn lực, phân bổ kinh phí); tổ chức thực hiện chính sách (xây dựng mạng lưới phối hợp liên ngành công an – y tế – tư pháp – CTXH); đánh giá thực hiện chính sách định kỳ.
  • Giải pháp tăng cường năng lực: Thiết kế chương trình đào tạo liên tục dựa trên năng lực (Competency-Based Education - CBE), tăng thời lượng thực hành ca thực tế và thiết lập mạng lưới kiểm huấn chuyên môn từ cấp thành phố/quận xuống cơ sở.
  • Đề xuất Khung năng lực BVTE cho người làm CTXH cấp cơ sở: Cấu trúc thành các nhóm năng lực chung và chuyên môn, phân tầng chi tiết theo 3 vị trí việc làm cụ thể tại cấp cơ sở:

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam, gắn kết lý thuyết Hệ thống sinh thái của Bronfenbrenner với mô hình năng lực ASK.
  2. Thao tác hóa thành công khái niệm năng lực BVTE thành tập hợp các chỉ báo hành vi có thể đo lường được, tương thích trực tiếp với 3 cấp độ can thiệp theo Luật Trẻ em năm 2016 (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp khẩn cấp).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện, phản ánh thực trạng năng lực của cán bộ làm công tác BVTE tại 30 quận/huyện của thành phố Hà Nội; làm rõ khoảng cách giữa văn bản quy định và năng lực thực thi thực tế.
  2. Sử dụng phân tích EFA và ANOVA để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của 4 nhóm yếu tố: đặc điểm cá nhân, giáo dục đào tạo, môi trường làm việc và văn hóa đến năng lực cán bộ cơ sở.
  3. Xây dựng và đề xuất Khung năng lực BVTE cấp cơ sở với các bản mô tả chi tiết chuẩn năng lực theo 3 vị trí việc làm: (1) Người làm CTXH chuyên nghiệp; (2) Công chức phụ trách công tác BVTE cấp xã; (3) Cộng tác viên BVTE tại thôn, tổ dân phố.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Về thể chế, chính sách: Đề nghị hoàn thiện khung pháp lý về vị trí việc làm CTXH trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở; ban hành thông tư quy định chuẩn năng lực nghề nghiệp BVTE làm căn cứ tuyển dụng, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ.
  • Về đào tạo và bồi dưỡng: Chuyển đổi mô hình tập huấn từ truyền thụ lý thuyết sang đào tạo dựa trên năng lực (CBE); đưa các học phần thực hành quản lý ca, can thiệp sang chấn và xử lý khủng hoảng vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên.
  • Về môi trường làm việc: Thiết lập cơ chế kiểm huấn chuyên môn định kỳ (supervision) nhằm tháo gỡ khó khăn về mặt chuyên môn và hỗ trợ tâm lý cho cán bộ; hiện đại hóa hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu trẻ em để giảm thiểu áp lực thủ tục giấy tờ hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phương pháp khảo sát định lượng chủ yếu dựa trên kỹ thuật tự đánh giá (self-assessment) của người làm CTXH cấp cơ sở, do đó kết quả phản ánh năng lực có thể chịu sự chi phối từ nhận thức chủ quan của người trả lời. Dù tác giả đã khắc phục bằng cách phỏng vấn sâu lãnh đạo và đại diện gia đình trẻ em, nguy cơ sai lệch nhận thức vẫn tồn tại nhất định.
  • Khách thể và địa bàn nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi 30 quận, huyện của thành phố Hà Nội – một đô thị lớn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù, chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh của các vùng nông thôn sâu, miền núi hoặc đồng bằng có điều kiện kinh tế khó khăn hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm ra các tỉnh, thành phố khác đại diện cho các vùng sinh thái – xã hội khác nhau trên cả nước để so sánh sự khác biệt về năng lực.
  • Áp dụng các phương pháp đo lường khách quan hơn như đánh giá qua quan sát thực tế (observation), kiểm tra năng lực qua tình huống mô phỏng (simulation/case study), hoặc đánh giá 360 độ từ chính thân chủ (trẻ em và người chăm sóc).
  • Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm triển khai áp dụng thử nghiệm Khung năng lực BVTE do tác giả đề xuất vào quy trình tuyển dụng và bồi dưỡng tại một số xã/phường để đánh giá hiệu quả tác động thực tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Cục Trẻ em, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội): Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, hoàn thiện chính sách vị trí việc làm, và xây dựng khung bồi dưỡng chuyên môn định kỳ cho đội ngũ BVTE cấp xã theo Luật Trẻ em 2016.
  • Cơ sở đào tạo (các trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành Công tác xã hội, Xã hội học): Là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ giảng dạy các học phần "Công tác xã hội với trẻ em và gia đình", "Bảo vệ trẻ em", "Quản lý ca trong CTXH"; giúp các cơ sở đào tạo điều chỉnh chương trình đào tạo gắn liền với nhu cầu năng lực thực tế tại cơ sở.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ sở dịch vụ xã hội: Sử dụng Khung năng lực đề xuất làm công cụ để rà soát, đánh giá nhu cầu đào tạo (TNA), xây dựng tài liệu tập huấn và thiết lập quy trình kiểm huấn cho nhân viên dự án và cộng tác viên tại thực địa.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và người làm CTXH: Cung cấp nguồn tham khảo phương pháp luận về việc ứng dụng thang đo ASK, kiểm định EFA/ANOVA trong nghiên cứu khoa học xã hội ứng dụng, đồng thời giúp người làm thực hành tự soi chiếu, xác định khoảng trống năng lực cá nhân để chủ động bồi dưỡng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án ghi nhận thực trạng bạo lực, xâm hại trẻ em tại Việt Nam và Hà Nội qua những số liệu cụ thể nào?

Theo số liệu trích dẫn trong luận án, từ năm 2019 đến năm 2023, cả nước ghi nhận 7.483 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hại tình dục chiếm trên 80% (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, 2024). Trong giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 9/2023, cả nước có 7.883 trẻ em bị bạo lực, xâm hại dưới các hình thức khác nhau (bình quân mỗi tháng có 170 em, mỗi ngày có gần 6 em; nạn nhân là trẻ em gái chiếm 86%, trẻ em trai chiếm 14%). Tại thành phố Hà Nội, có 12.765 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và 30.501 trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, 2023).

2. Luận án thao tác hóa năng lực bảo vệ trẻ em theo những thành tố cụ thể nào?

Tác giả sử dụng mô hình ASK để thao tác hóa năng lực BVTE thành 3 nhóm thành tố:

  • Kiến thức: Luật pháp, chính sách, Công ước Quyền trẻ em; chương trình, nguồn lực BVTE; kiến thức về trẻ em và tâm sinh lý trẻ; quy trình BVTE; kiến thức quản lý ca; các giá trị đạo đức CTXH; vai trò trách nhiệm nghề nghiệp.
  • Kỹ năng: Tư vấn pháp luật, chính sách; tham vấn tâm lý; đánh giá nguy cơ, tổn hại; kỹ năng làm việc với trẻ và gia đình; xử lý tình huống khẩn cấp; làm việc nhóm liên ngành; đánh giá nhu cầu và can thiệp; xử lý căng thẳng; phát hiện, phòng ngừa, can thiệp; kết nối, điều phối và giám sát dịch vụ.
  • Thái độ/Hành vi: Cần, kiệm, liêm, chính; tâm huyết, trách nhiệm, chủ động, sáng tạo; kiên nhẫn, thấu hiểu, chia sẻ; đặt lợi ích tốt nhất của trẻ lên hàng đầu; tính chuyên nghiệp, tuân thủ kỷ luật nghề nghiệp; đoàn kết đồng nghiệp và tự chăm sóc bản thân.

3. Những khung năng lực quốc tế nào được luận án nghiên cứu và đối sánh?

Luận án phân tích 3 khung năng lực quốc tế chính:

  • Khung năng lực của Liên minh Bảo vệ trẻ em hành động nhân văn (CPHA, 2023) với 4 lĩnh vực: đảm bảo can thiệp chất lượng, phòng ngừa/giải quyết nguy cơ, phát triển chiến lược BVTE, và hợp tác liên ngành.
  • Khung năng lực thực hành BVTE của bang Victoria – Úc (Phòng Dịch vụ con người, 2012) tập trung vào 10 chuẩn năng lực thực hành trực tiếp (hiểu biết sự phát triển của trẻ, đánh giá nguy cơ, năng lực pháp lý, kỹ năng làm việc tại tòa án, làm việc với các nhóm đặc thù...).
  • Khung năng lực BVTE của Anh (Ban Hợp tác Leicester, 2020) với cấu trúc 3 nhóm: Nhóm 1 năng lực cốt lõi (5 năng lực), Nhóm 2 năng lực tuyến đầu (5 năng lực), và Nhóm 3 năng lực bổ sung theo vai trò (21 năng lực).

4. Phân tích EFA trong luận án đã xác định những nhóm yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực bảo vệ trẻ em?

Qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và ma trận xoay nhân tố, luận án xác định 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng:

  1. Đặc điểm cá nhân: Thâm niên công tác, tuổi đời, động lực nội tại, tính cách cá nhân và mức độ chịu đựng căng thẳng.
  2. Giáo dục và đào tạo: Trình độ đào tạo chuyên môn CTXH, tính thực tiễn và tần suất tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ BVTE.
  3. Môi trường làm việc: Khối lượng công việc kiêm nhiệm, cơ chế phối hợp liên ngành, sự hiện diện của kiểm huấn chuyên môn (supervision), trang thiết bị và thủ tục hành chính.
  4. Yếu tố văn hóa: Văn hóa tổ chức cơ quan, niềm tin và giá trị văn hóa gia đình truyền thống, cùng định kiến xã hội liên quan đến quyền trẻ em.

5. Khung năng lực bảo vệ trẻ em đề xuất tại Chương V được phân chia theo các nhóm vị trí việc làm nào?

Khung năng lực do tác giả đề xuất được phân định rõ ràng theo 3 nhóm đối tượng thực hiện công tác BVTE tại cấp cơ sở:

  1. Người làm CTXH chuyên nghiệp: Đòi hỏi trình độ chuyên môn chuẩn về CTXH, đảm nhiệm các ca can thiệp phức tạp, trị liệu tâm lý chuyên sâu, quản lý trường hợp và điều phối can thiệp đa ngành.
  2. Người làm CTXH phụ trách công tác BVTE cấp xã (công chức/cán bộ kiêm nhiệm): Thực hiện tiếp nhận thông tin, xử lý ban đầu, lập kế hoạch can thiệp hành chính, kết nối các nguồn lực xã hội và chuyển gửi dịch vụ tại địa bàn xã/phường.
  3. Cộng tác viên BVTE cấp cơ sở (thôn, tổ dân phố): Tập trung vào kỹ năng rà soát, phát hiện sớm dấu hiệu nguy cơ, báo cáo ban đầu, tuyên truyền và vận động cộng đồng tham gia bảo vệ trẻ em.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thùy Trang là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về năng lực bảo vệ trẻ em của đội ngũ làm công tác xã hội cấp cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bằng việc kết hợp khung năng lực ASK, lý thuyết Hệ thống sinh thái và các kỹ thuật xử lý định lượng (ANOVA, EFA), nghiên cứu đã làm rõ thực trạng thiếu hụt năng lực chuyên môn, sự bất cập trong phân bổ nhân sự kiêm nhiệm và các yếu tố cản trở từ môi trường làm việc cơ sở. Đóng góp nổi bật của luận án là việc đề xuất Khung năng lực bảo vệ trẻ em phân tầng theo 3 vị trí việc làm cùng hệ thống giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách và các cơ sở đào tạo công tác xã hội tại Việt Nam.