Năng Lực Bảo Vệ Trẻ Em Của Người Làm Công Tác Xã Hội Cấp Cơ Sở Tại Thành Phố Hà Nội

Khám phá năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở tại Hà Nội, góp phần nâng cao an toàn và phát triển trẻ em.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

180
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu về công tác xã hội và bảo vệ trẻ em

1.2. Các nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm của người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em

1.3. Các nghiên cứu về các tiêu chuẩn năng lực của người làm công tác xã hội cấp cơ sở

1.4. Các nghiên cứu về năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội

1.5. Các khung năng lực bảo vệ trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam

1.5.1. Khung năng lực bảo vệ trẻ em của Liên minh Bảo vệ trẻ em hành động nhân văn (CPHA)

1.5.2. Khung năng lực bảo vệ trẻ em của Úc

1.5.3. Khung năng lực bảo vệ trẻ em của Anh

1.6. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội

1.6.1. Nhóm yếu tố Đặc điểm cá nhân

1.6.2. Nhóm yếu tố giáo dục và đào tạo

1.6.3. Nhóm yếu tố môi trường làm việc

1.6.4. Nhóm yếu tố văn hóa

1.7. Khoảng trống của các nghiên cứu và xu hướng nghiên cứu

1.8. Tiểu kết Chương I

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các khái niệm công cụ

2.1.1. Khái niệm năng lực

2.1.2. Khái niệm bảo vệ trẻ em

2.1.3. Khái niệm năng lực bảo vệ trẻ em

2.1.4. Khái niệm khung năng lực

2.1.5. Khái niệm khung năng lực bảo vệ trẻ em

2.1.6. Khái niệm người làm công tác xã hội

2.1.7. Khái niệm người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em

2.1.8. Khái niệm cấp cơ sở

2.1.9. Khái niệm năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở

2.2. Lý thuyết Học tập xã hội

2.3. Lý thuyết Hệ thống sinh thái

2.4. Khung năng lực ASK

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.5.4. Phương pháp chuyên gia

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC BẢO VỆ TRẺ EM CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ

3.1. Địa bàn nghiên cứu

3.2. Hoạt động truyền thông

3.3. Hoạt động tập huấn

3.4. Công tác thu thập, quản lý bộ chỉ tiêu số liệu và hoạt động hỗ trợ, can thiệp, trợ giúp trẻ em

3.5. Đặc điểm của khách thể tham gia nghiên cứu

3.6. Thực trạng trình độ đào tạo công tác xã hội của người làm công tác xã hội cấp cơ sở

3.7. Tự đánh giá thực trạng năng lực kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em và thái độ của người làm công tác xã hội

3.7.1. Kiến thức về Bảo vệ trẻ em

3.7.2. Kỹ năng bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội

3.8. Thực trạng thái độ/hành vi của người làm công tác xã hội cấp cơ sở

3.9. Mức độ tham gia các lớp đào tạo/bồi dưỡng về công tác bảo vệ trẻ em

3.10. Khả năng thực hiện công tác bảo vệ trẻ em

3.10.1. Khả năng thực hiện công tác phòng ngừa

3.10.2. Khả năng thực hiện công tác hỗ trợ

3.10.3. Khả năng thực hiện công tác can thiệp

3.11. Tương quan giữa trình độ đào tạo Công tác xã hội và năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội

3.12. Tiểu kết chương III

4. CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC BẢO VỆ TRẺ EM CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ

4.1. Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở

4.2. Phân tích nhân tố khám phá cho các yếu tố ảnh hưởng

4.3. Đặc điểm cá nhân của người làm công tác xã hội

4.4. Giáo dục và đào tạo

4.5. Môi trường làm việc

4.6. Tiểu kết Chương IV

5. CÁC GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT KHUNG NĂNG LỰC BẢO VỆ TRẺ EM

5.1. Sự cần thiết phải có các giải pháp và khung năng lực bảo vệ trẻ em

5.2. Giải pháp về các quy định, chính sách

5.3. Giải pháp về tổ chức, thực hiện thực hiện chính sách

5.3.1. Chuẩn bị tổ chức thực hiện chính sách

5.3.2. Tổ chức thực hiện chính sách

5.3.3. Đánh giá việc tổ chức thực hiện chính sách

5.4. Các giải pháp tăng cường năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội

5.5. Đề xuất khung năng lực bảo vệ trẻ em cho người làm công tác xã hội cấp cơ sở

5.5.1. Cơ sở thực tiễn

5.6. Tiểu kết Chương V

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Năng Lực Bảo Vệ Trẻ Em Vai Trò CTXH Hà Nội

Việt Nam cam kết mạnh mẽ bảo vệ trẻ em, thể hiện qua việc phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990. Đảng và Nhà nước coi công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em là mục tiêu quan trọng trong phát triển bền vững. Hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em không ngừng hoàn thiện, với nhiều luật và nghị định liên quan được ban hành. Tuy nhiên, tình hình xâm hại trẻ em vẫn diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong xã hội. Số vụ xâm hại tình dục trẻ em chiếm tỷ lệ cao, gây hậu quả nghiêm trọng. Hà Nội, với vai trò là thủ đô, tập trung nhiều cơ quan, tổ chức bảo vệ trẻ em, nhưng hệ thống vẫn còn nhiều hạn chế. Cán bộ công tác xã hội (CTXH) thiếu năng lực, dẫn đến việc xử lý thông tin chậm trễ. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá năng lực bảo vệ trẻ em của người làm CTXH cấp cơ sở tại Hà Nội, nhằm đề xuất giải pháp và khung năng lực phù hợp. Cần nâng cao hiệu quả công tác xã hội để bảo vệ trẻ em tốt hơn.

1.1. Tầm Quan Trọng của Bảo Vệ Trẻ Em trong Phát Triển Xã Hội

Bảo vệ trẻ em được coi là một trong những mục tiêu quan trọng trong các chủ trương chính sách và chiến lược phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước. Chỉ thị 20/CT-TW ngày 5-11-2012 của Đảng đã khẳng định công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em có tính chiến lược, lâu dài, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của đất nước (Bộ Chính trị, 2023). Điều này nhấn mạnh vai trò trung tâm của trẻ em trong sự phát triển chung của xã hội, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc đảm bảo quyền lợi và sự an toàn của trẻ em.

1.2. Thực Trạng Xâm Hại Trẻ Em và Yêu Cầu Nâng Cao Năng Lực CTXH

Mặc dù có sự chuyển biến tích cực về công tác bảo vệ trẻ em, tuy nhiên trong những năm qua số vụ xâm hại trẻ em, số trẻ em bị xâm hại, số trẻ em bị tai nạn thương tích đặc biệt trẻ em tử vong do đuối nước vẫn diễn biến phức tạp, ngày càng xuất hiện nhiều vụ việc nghiêm trọng gây bức xúc trong xã hội. Thành phố Hà Nội có số lượng lớn trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Cần có sự trợ giúp chuyên nghiệp của đội ngũ người làm công tác xã hội để giải quyết những vấn đề phức tạp mà trẻ em thủ đô gặp phải.

II. Thách Thức Thiếu Năng Lực BVTE Của CTXH Tại Hà Nội

Hệ thống bảo vệ trẻ em tại Hà Nội còn nhiều hạn chế, đặc biệt là năng lực của cán bộ cấp xã trong xử lý thông tin xâm hại. UNICEF Việt Nam cũng chỉ ra những bất cập trong đội ngũ cán bộ, như lực lượng mỏng và thiếu dịch vụ tham vấn chuyên nghiệp. Số lượng cán bộ chuyên trách giảm do tinh giản biên chế, cán bộ kiêm nhiệm chưa được đào tạo bài bản về quyền trẻ em và công tác xã hội. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vai trò quan trọng của công tác xã hội trong thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, nghiên cứu về năng lực của người làm CTXH trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em cấp cơ sở còn hạn chế. Nghiên cứu này sẽ đánh giá năng lực của đội ngũ người làm CTXH, hướng đến đề xuất tiêu chuẩn và phát triển đội ngũ chuyên nghiệp.

2.1. Bất Cập Trong Hệ Thống Bảo Vệ Trẻ Em Hiện Tại ở Hà Nội

Báo cáo của Chính phủ về công tác bảo vệ trẻ em cho thấy vấn đề về năng lực của cán bộ bảo vệ trẻ em ở cấp xã khi chưa kịp thời xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em. Do họ thiếu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ nên công tác hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em bị xâm hại chưa đạt yêu cầu (Báo Điện tử Chính phủ, 2022).

2.2. Yêu Cầu Đặt Ra Đối Với Đội Ngũ Cán Bộ Công Tác Xã Hội

Kinh nghiệm quốc tế đã chứng minh vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội trong việc thực hiện các chính sách bảo vệ trẻ em, cung cấp các dịch vụ, thực hiện kết nối, chuyển gửi đảm bảo sự tiếp cận và công bằng cho trẻ em và gia đình (AASW, 2015). Chính vì vậy họ cần có năng lực chuyên môn đặc biệt là khả năng thực hành, phát triển kiến thức, năng lực, các giá trị của bản thân và phát triển nghề nghiệp (Statham và cộng sự, 2006).

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Năng Lực CTXH Bảo Vệ Trẻ Em Hà Nội

Nghiên cứu này tập trung xây dựng cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở tại Hà Nội. Mục tiêu là đề xuất giải pháp nâng cao năng lực và khung năng lực bảo vệ trẻ em. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: thu thập và phân tích tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, và tham vấn chuyên gia. Phạm vi nghiên cứu bao gồm: nội dung liên quan đến năng lực bảo vệ trẻ em; khách thể là người làm CTXH có kinh nghiệm; không gian là 30 quận/huyện của Hà Nội; thời gian từ 2020-2023. Nghiên cứu có hạn chế về việc đánh giá năng lực dựa trên tự đánh giá, nhưng được khắc phục bằng phỏng vấn sâu để đảm bảo tính khách quan.

3.1. Cơ Sở Lý Luận và Phạm Vi Nghiên Cứu

Luận án sử dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái, lý thuyết Học tập và khung năng lực ASK (Attitudes, Skills, Knowledge) để nghiên cứu, mô tả, phân tích và đánh giá năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội. Xác định, đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực bảo vệ trẻ em của họ. Trên cơ sở những dữ liệu thu thập được từ đó đề xuất các giải pháp và khung năng lực bảo vệ trẻ em nâng cao năng lực bảo vệ trẻ em cho người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em cấp cơ sở.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu và Hạn Chế Của Nghiên Cứu

Nhóm đối tượng tham gia khảo sát là người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em có kinh nghiệm làm việc từ 01 năm trở lên tại UBND cấp xã, các cơ sở dịch vụ công tác xã hội cung cấp dịch vụ trực tiếp cho trẻ em và gia đình trẻ em gồm có trung tâm công tác xã hội và Quỹ bảo trợ trẻ em, đường dây hotline 111, trung tâm Phụ nữ và phát triển. Với điều kiện tiếp cận khách thể nghiên cứu, luận án thực hiện khảo sát đánh giá năng lực bảo vệ trẻ em dựa trên hoạt động tự đánh giá của người làm công tác xã hội cấp cơ sở.

IV. Thực Trạng Năng Lực Bảo Vệ Trẻ Em Của CTXH Hà Nội Hiện Nay

Nghiên cứu đặt ra các câu hỏi: thực trạng năng lực bảo vệ trẻ em của công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở tại Hà Nội như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực bảo vệ trẻ em? CTXH cần có những năng lực gì? Cần đề xuất giải pháp và khung năng lực như thế nào? Giả thuyết là: CTXH còn thiếu kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em và thái độ đối với thân chủ. Các yếu tố cá nhân, giáo dục, môi trường làm việc, văn hóa có tác động lớn. Cần xây dựng khung năng lực bảo vệ trẻ em đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp hệ thống lý luận về năng lực bảo vệ trẻ em, xây dựng khái niệm công cụ, và là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này.

4.1. Các Câu Hỏi Nghiên Cứu Quan Trọng

Nghiên cứu đặt ra các câu hỏi a) Thực trạng năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở tại TP. Hà Nội hiện nay như thế nào? b) Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở tại TP. Hà Nội? c) Người làm công tác xã hội cấp cơ sở cần có những năng lực bảo vệ trẻ em gì? d) Cần đề xuất các giải pháp và khung năng lực bảo vệ trẻ em cho người làm công tác xã hội cấp cơ sở như thế nào?

4.2. Giả Thuyết và Ý Nghĩa Khoa Học Của Nghiên Cứu

Giả thuyết 1: Người làm công tác xã hội cấp cơ sở còn thiếu năng lực về kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em và thái độ đối với thân chủ. Giả thuyết 2: Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm cá nhân, giáo dục và đào tạo, môi trường làm việc, yếu tố văn hóa có tác động cao đến năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội cấp cơ sở. Giả thuyết 3: Cần phải xây dựng khung năng lực bảo vệ trẻ em cho người làm công tác xã hội cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp một hệ thống lý luận, khái niệm về năng lực bảo vệ trẻ em của người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em cấp cơ sở.

V. Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cho CTXH Bảo Vệ Trẻ Em Hà Nội

Kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ xác định, đánh giá và phân tích thực trạng năng lực bảo vệ trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng; xác định khoảng trống chuyên môn để xây dựng giải pháp nâng cao năng lực. Đồng thời, tăng cường chất lượng dịch vụ cho trẻ em và gia đình. Luận án đề xuất khung năng lực bảo vệ trẻ em cho người làm CTXH, làm tham khảo cho nhà hoạch định chính sách, quản lý và cơ sở dịch vụ xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Việc xác định năng lực cần thiết sẽ hỗ trợ phát triển chương trình đào tạo và là công cụ đánh giá năng lực nhân viên CTXH. Ngoài ra, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực bảo vệ trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng.

5.1. Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án đã xác định, đánh giá và phân tích thực trạng năng lực bảo vệ trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực bảo vệ trẻ em; xác định những khoảng trống về chuyên môn của người làm công tác xã hội từ đó xây dựng những giải pháp nâng cao năng lực cho họ; đồng thời tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ cho trẻ em và gia đình.

5.2. Đề Xuất Khung Năng Lực và Ứng Dụng

Luận án đề xuất khung năng lực bảo vệ trẻ em cho người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em cấp cơ sở làm khung tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và các cơ sở dịch vụ xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em và làm cơ sở cho việc tuyển dụng và đào tạo/bồi dưỡng nâng cao năng lực. Việc xác định các năng lực cần thiết về bảo vệ trẻ em không chỉ hỗ trợ phát triển các chương trình đào tạo liên quan tới bảo vệ trẻ em mà còn là công cụ đánh giá năng lực của nhân viên công tác xã hội sau khi được đào tạo.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I phân tích, tổng hợp những kết quả và các phát hiện của các nghiên cứu tiêu biểu trong nước và trên thế giới liên quan tới chủ đề năng lực BVTE của người làm CTXH trong lĩnh vực BVTE cấp cơ sở; phân tích những phát hiện mới và những điểm tồn tại, phương pháp nghiên cứu, khoảng trống và hướng nghiên cứu của các nghiên cứu liên quan. Các nghiên cứu về công tác xã hội và bảo vệ trẻ em Công tác xã hội bắt đầu xuất hiện tại Mỹ và Châu Âu và có liên quan tới những hoạt động giảm nghèo. Từ những hoạt động từ thiện và tình nguyện ban đầu, CTXH dần phát triển chuyên nghiệp và trở thành một ngành khoa học xã hội không chỉ hỗ trợ các cá nhân, gia đình và cộng đồng mà còn giúp giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề liên quan tới trẻ em. Người làm CTXH làm việc trong một số trại giam đặc biệt là trại giam dành cho thanh thiếu niên, trong các bệnh viện và các chương trình chăm sóc bệnh nhân ngoại trú, các bệnh viện tâm thần dành cho trẻ em (Stuart, 2019, tr.

Sự phát triển của CTXH gắn với sự hình thành của các trường đào tạo CTXH chuyên nghiệp nhằm xây dựng đội ngũ người làm CTXH có đủ năng lực thực hiện công việc. Theo nghiên cứu của Jame Migley, các trường CTXH chuyên nghiệp đã liên kết với Hiệp hội các trường CTXH Quốc tế và đã xuất hiện tại hơn 77 nước trên thế giới. CTXH tiếp tục được mở rộng ra các nước Đông Âu, các nước Xô Viết và Trung Hoa (James Midley, 1996). Mặc dù CTXH đã phát triển lan rộng ra các quốc gia trên thế giới nhưng thực sự lúc đó vẫn chưa giải quyết được các vấn đề của trẻ em do trước đây công tác trẻ em chưa được quan tâm ở xã hội Châu Âu và một vài nước.

Nghiên cứu của Philip Aries về trẻ em cho thấy xã hội Châu Âu thời trung cổ trước thế kỷ 19 không quan tâm tới thời thơ ấu và những đặc điểm đặc biệt của trẻ em khi phân biệt với người trưởng thành. Thời thơ ấu không được nhìn nhận và không được coi là một giai đoạn phát triển của con người. Tuy nhiên, nền y học của Hồi giáo đã quan tâm tới việc nghiên cứu các kiến thức đa dạng về các đặc điểm đặc biệt về thể chất và tinh thần của trẻ em. Các y, bác sỹ đã quan tâm tới công tác chữa trị cho trẻ em bằng 17 cách kết hợp các phương pháp chữa trị nhi đặc biệt mà chưa được biết tới ở thời đó (Arises, 1960 viện dẫn bởi Jabeen, 2019, tr.

Trong những vấn đề liên quan tới trẻ em thì xâm hại trẻ em luôn xảy ra thường xuyên trong lịch sử và ở nhiều nền văn hóa khác nhau. Từ cuối thế kỷ thứ 19, BVTE lần đầu tiên được biết đến từ nỗi lo chung của xã hội vì cảm xúc của trẻ em bị coi nhẹ và trẻ em dễ bị tổn thương do độ tuổi, sức khỏe và thể trạng non nớt. Do đó, các nước đã cố gắng giảm tỉ lệ chết ở trẻ em, trẻ sơ sinh và xây dựng luật pháp về lao động trẻ em và giáo dục phổ cập. Nhiều hoạt động bảo vệ trẻ em bị xâm hại đã được thực hiện cùng với sự ra đời của các tổ chức xã hội phòng ngừa tội ác đối với trẻ em tại nhiều nước trên thế giới như nước Mỹ và Anh.

Vào giữa thế kỷ thứ 20, các dịch vụ BVTE đã được cung cấp bởi các nhân viên chuyên nghiệp có chuyên môn về đánh giá và trị liệu (Tahira Jabeen, 2013). Hệ thống BVTE với nhiệm vụ bảo vệ trẻ em hàng giờ, tuy nhiên các hoạt động chưa hiệu quả chỉ khi có vấn đề thực sự nghiệm trọng xảy đến với trẻ em thì xã hội mới biết đến. Người làm CTXH đã không thể trợ giúp trẻ em thoát khỏi nguy cơ tử vong hoặc đưa ra quyết định chuyển gửi phù hợp (John Mayers, 2008). BVTE là một lĩnh vực thuộc CTXH và được hỗ trợ bởi luật pháp, sức khỏe tâm thần, thuốc, điều dưỡng và giáo dục.

Nhân viên CTXH ở địa phương đã sắp xếp chỗ ở cho trẻ em mồ côi, bảo vệ trẻ em bị lạm dụng và sao nhãng, hỗ trợ người nghèo (Myers, 2010). Tại Việt Nam, các đối tượng trợ giúp của CTXH ngày càng đa dạng bao gồm: người già, trẻ em, phụ nữ yếu thế, người khuyết tật, người nghiện ma túy, mại dâm… “Từ năm 2020 đến tháng 9 năm 2023 cả nước có 7.883 trẻ em bị bạo lực, xâm hại dưới các hình thức khác nhau (bình quân một tháng có 170 em, một ngày có gần 6 em bị bạo lực, xâm hại; trẻ em gái chiếm tới 86%, trẻ em trai 14%) ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe, tính mạng của trẻ em và hiện nay tình hình bạo lực, xâm hại trẻ em vẫn diễn biến phức tạp, chưa có xu hướng giảm do nhiều thách thức” (Sở LĐTBXH, 2024). Việc chuyên nghiệp hóa CTXH đã được chính phủ Việt Nam, cộng đồng và các đối tác cũng như các tổ chức chăm sóc và BVTE quốc tế quan tâm 18 sâu sắc. Đặc biệt năm 2004, Bộ GDĐT đã phê duyệt đưa CTXH vào giảng dạy tại một số chương trình đào tạo và ban hành chương trình khung đào tạo CTXH.

Sau 5 năm thực hiện chương trình khung đào tạo CTXH thì có một số hạn chế, đó là các kiến thức cơ bản chưa đủ đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo và chưa phân bổ đủ thời gian để phát triển kỹ năng thực hành CTXH. Do đó đến năm 2010, chương trình khung quốc gia đào tạo CTXH đã được sửa đổi và cũng trong thời gian này, chính phủ đã phê duyệt Đề án 32 phát triển nghề CTXH giai đoạn năm 2010- 2020 với mục tiêu công nhận CTXH là một nghề trong xã hội (Nguyễn Thị Thái Lan, 2012). “CTXH bao gồm an sinh trẻ em (ASTE) góp phần đào tạo đội ngũ thực hành và phát triển lĩnh vực ASTE” (Whitaker, 2012, tr. Việc chuyên nghiệp hóa CTXH được thực hiện bởi chính phủ Việt Nam, các tổ chức chăm sóc bảo vệ trẻ em quốc tế và các bên liên quan.

Các chuyên gia BVTE đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của CTXH tại Việt Nam khi có nhiều trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật có nhu cầu đặc biệt. Để chăm sóc, BVTE và gia đình đồng thời đáp ứng nhu cầu của họ thì cần đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ làm CTXH (Khadijah Madihi, Sahra Brubeck, 2018). Nhiều ca trẻ em bị lạm dụng và bạo lực trong trường học và cộng đồng đã làm tăng áp lực và nhu cầu của xã hội dẫn đến sự thay đổi và cam kết giải quyết bạo lực với trẻ em của hệ thống chính trị. Sự thay đổi về cơ cấu trong hệ thống an sinh cụ thể là sát nhập nhiều đơn vị cấp cơ sở đã khiến cho chất lượng của đội ngũ cán bộ bị giảm trong việc giải quyết nhu cầu ngày càng cao của ASXH bao gồm các vấn đề về BVTE (UNICEF, 2019c, tr.

Các công trình nghiên cứu đã mô tả khái quát sự phát triển của CTXH và BVTE trong nước và trên thế giới và các lĩnh vực hoạt động đa dạng của người làm CTXH trong hệ thống ASXH như: các hoạt động từ thiện, giảm nghèo, hỗ trợ bệnh viện, nhà tù cho thanh thiếu niên và trẻ em có vấn đề về sức khỏe tâm thần, cung cấp dịch vụ. Kết quả của mỗi nghiên cứu khác nhau từ những góc nhìn khác nhau của nhà nghiên cứu đã khái quát những điểm mạnh cũng như những tồn tại của CTXH và BVTE. Các nghiên cứu đã thể hiện rõ ý nghĩa nhân văn và tầm quan trọng 19 của CTXH trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề BVTE. CTXH đã phát triển chuyên nghiệp ở một số nước trên thế giới nhưng năng lực của người làm CTXH vẫn còn hạn chế.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự thiếu hụt về năng lực của người làm CTXH khi làm việc với trẻ em. Một số nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khái quát hiện tượng và chủ yếu dựa trên tài liệu thứ cấp, chưa thể hiện rõ phương pháp nghiên cứu, vai trò và sự tham gia của người làm CTXH trong hệ thống BVTE, đặc biệt, chưa có nghiên cứu cụ thể về năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở. Các nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm của người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em Vai trò, trách nhiệm của người làm CTXH đã được xác định cụ thể trong các nghiên cứu khác nhau. Tài liệu nghiên cứu của Statham, Cameron và Mooney (2006) đã xác định các vai trò của người làm CTXH bao gồm: vai trò là người biện hộ, nhà tham vấn, quản lý trường hợp, người cộng tác, người đánh giá nguy cơ, quản lý chăm sóc và vai trò làm tác nhân kiểm soát xã hội.

Việc kết hợp và ưu tiên sử dụng vai trò nào còn tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng và bối cảnh làm việc của người làm CTXH (Statham và cộng sự, 2006, tr. Vai trò, trách nhiệm của người làm CTXH được mở rộng thêm là người bảo vệ, người cộng tác, người điều phối, người biện hộ, người đảm bảo các quyền của thân chủ và là người tạo sự thay đổi đảm bảo sự công bằng xã hội (Dominelly, 2009, tr. Ngoài các vai trò đã đề cập ở trên, Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế đã xác định các vai trò, trách nhiệm của nhân viên CTXH trong các hệ thống bảo trợ xã hội là đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào việc phát triển các hệ thống xã hội và đối xử với mọi người bằng sự liêm chính và tôn trọng, đảm bảo các quyền con người và công bằng xã hội. Người làm CTXH có vai trò điều phối giữa các dịch vụ công với các hệ thống dịch vụ cộng đồng và gia đình nhằm tăng cường vai trò của gia đình, cộng đồng và tăng cường sự tiếp cận cho người dân; vai trò vận động các dịch vụ sẵn có tại cộng đồng, vận động các dịch vụ bảo trợ xã hội tạo khả năng tiếp cận tối đa cho người dân tránh sự trùng lặp (IFSW, 2016).

20 Có thể thấy nhân viên CTXH thực hiện nhiều vai trò đa dạng khác nhau nhưng cùng chung mục tiêu tăng cường an sinh cho cá nhân, gia đình, và cộng đồng, đảm bảo công bằng xã hội và sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cho họ. Những người làm việc với trẻ em và gia đình, cha mẹ/người chăm sóc cần phải hiểu rõ vai trò của họ và vai trò của cơ quan BVTE tại địa phương (Sở Giáo dục Anh, 2018, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Năng Lực Bảo Vệ Trẻ Em Của Người Làm Công Tác Xã Hội Tại Hà Nội" khám phá vai trò quan trọng của những người làm công tác xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của trẻ em. Tài liệu nhấn mạnh các kỹ năng cần thiết mà nhân viên công tác xã hội cần có để hỗ trợ trẻ em, đồng thời chỉ ra những thách thức mà họ phải đối mặt trong môi trường làm việc. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức mà công tác xã hội có thể cải thiện cuộc sống của trẻ em, cũng như tầm quan trọng của việc đào tạo và phát triển năng lực cho những người làm trong lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Trung Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, nơi đề cập đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu hoàn thiện pháp luật để thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Liên hợp quốc về quyền trẻ em tại Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn về khung pháp lý bảo vệ trẻ em. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền lợi của trẻ em trong bối cảnh gia đình ly hôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến bảo vệ trẻ em và vai trò của công tác xã hội.