Chương I phân tích, tổng hợp những kết quả và các phát hiện của các nghiên cứu tiêu biểu trong nước và trên thế giới liên quan tới chủ đề năng lực BVTE của người làm CTXH trong lĩnh vực BVTE cấp cơ sở; phân tích những phát hiện mới và những điểm tồn tại, phương pháp nghiên cứu, khoảng trống và hướng nghiên cứu của các nghiên cứu liên quan. Các nghiên cứu về công tác xã hội và bảo vệ trẻ em Công tác xã hội bắt đầu xuất hiện tại Mỹ và Châu Âu và có liên quan tới những hoạt động giảm nghèo. Từ những hoạt động từ thiện và tình nguyện ban đầu, CTXH dần phát triển chuyên nghiệp và trở thành một ngành khoa học xã hội không chỉ hỗ trợ các cá nhân, gia đình và cộng đồng mà còn giúp giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề liên quan tới trẻ em. Người làm CTXH làm việc trong một số trại giam đặc biệt là trại giam dành cho thanh thiếu niên, trong các bệnh viện và các chương trình chăm sóc bệnh nhân ngoại trú, các bệnh viện tâm thần dành cho trẻ em (Stuart, 2019, tr.
Sự phát triển của CTXH gắn với sự hình thành của các trường đào tạo CTXH chuyên nghiệp nhằm xây dựng đội ngũ người làm CTXH có đủ năng lực thực hiện công việc. Theo nghiên cứu của Jame Migley, các trường CTXH chuyên nghiệp đã liên kết với Hiệp hội các trường CTXH Quốc tế và đã xuất hiện tại hơn 77 nước trên thế giới. CTXH tiếp tục được mở rộng ra các nước Đông Âu, các nước Xô Viết và Trung Hoa (James Midley, 1996). Mặc dù CTXH đã phát triển lan rộng ra các quốc gia trên thế giới nhưng thực sự lúc đó vẫn chưa giải quyết được các vấn đề của trẻ em do trước đây công tác trẻ em chưa được quan tâm ở xã hội Châu Âu và một vài nước.
Nghiên cứu của Philip Aries về trẻ em cho thấy xã hội Châu Âu thời trung cổ trước thế kỷ 19 không quan tâm tới thời thơ ấu và những đặc điểm đặc biệt của trẻ em khi phân biệt với người trưởng thành. Thời thơ ấu không được nhìn nhận và không được coi là một giai đoạn phát triển của con người. Tuy nhiên, nền y học của Hồi giáo đã quan tâm tới việc nghiên cứu các kiến thức đa dạng về các đặc điểm đặc biệt về thể chất và tinh thần của trẻ em. Các y, bác sỹ đã quan tâm tới công tác chữa trị cho trẻ em bằng 17 cách kết hợp các phương pháp chữa trị nhi đặc biệt mà chưa được biết tới ở thời đó (Arises, 1960 viện dẫn bởi Jabeen, 2019, tr.
Trong những vấn đề liên quan tới trẻ em thì xâm hại trẻ em luôn xảy ra thường xuyên trong lịch sử và ở nhiều nền văn hóa khác nhau. Từ cuối thế kỷ thứ 19, BVTE lần đầu tiên được biết đến từ nỗi lo chung của xã hội vì cảm xúc của trẻ em bị coi nhẹ và trẻ em dễ bị tổn thương do độ tuổi, sức khỏe và thể trạng non nớt. Do đó, các nước đã cố gắng giảm tỉ lệ chết ở trẻ em, trẻ sơ sinh và xây dựng luật pháp về lao động trẻ em và giáo dục phổ cập. Nhiều hoạt động bảo vệ trẻ em bị xâm hại đã được thực hiện cùng với sự ra đời của các tổ chức xã hội phòng ngừa tội ác đối với trẻ em tại nhiều nước trên thế giới như nước Mỹ và Anh.
Vào giữa thế kỷ thứ 20, các dịch vụ BVTE đã được cung cấp bởi các nhân viên chuyên nghiệp có chuyên môn về đánh giá và trị liệu (Tahira Jabeen, 2013). Hệ thống BVTE với nhiệm vụ bảo vệ trẻ em hàng giờ, tuy nhiên các hoạt động chưa hiệu quả chỉ khi có vấn đề thực sự nghiệm trọng xảy đến với trẻ em thì xã hội mới biết đến. Người làm CTXH đã không thể trợ giúp trẻ em thoát khỏi nguy cơ tử vong hoặc đưa ra quyết định chuyển gửi phù hợp (John Mayers, 2008). BVTE là một lĩnh vực thuộc CTXH và được hỗ trợ bởi luật pháp, sức khỏe tâm thần, thuốc, điều dưỡng và giáo dục.
Nhân viên CTXH ở địa phương đã sắp xếp chỗ ở cho trẻ em mồ côi, bảo vệ trẻ em bị lạm dụng và sao nhãng, hỗ trợ người nghèo (Myers, 2010). Tại Việt Nam, các đối tượng trợ giúp của CTXH ngày càng đa dạng bao gồm: người già, trẻ em, phụ nữ yếu thế, người khuyết tật, người nghiện ma túy, mại dâm… “Từ năm 2020 đến tháng 9 năm 2023 cả nước có 7.883 trẻ em bị bạo lực, xâm hại dưới các hình thức khác nhau (bình quân một tháng có 170 em, một ngày có gần 6 em bị bạo lực, xâm hại; trẻ em gái chiếm tới 86%, trẻ em trai 14%) ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe, tính mạng của trẻ em và hiện nay tình hình bạo lực, xâm hại trẻ em vẫn diễn biến phức tạp, chưa có xu hướng giảm do nhiều thách thức” (Sở LĐTBXH, 2024). Việc chuyên nghiệp hóa CTXH đã được chính phủ Việt Nam, cộng đồng và các đối tác cũng như các tổ chức chăm sóc và BVTE quốc tế quan tâm 18 sâu sắc. Đặc biệt năm 2004, Bộ GDĐT đã phê duyệt đưa CTXH vào giảng dạy tại một số chương trình đào tạo và ban hành chương trình khung đào tạo CTXH.
Sau 5 năm thực hiện chương trình khung đào tạo CTXH thì có một số hạn chế, đó là các kiến thức cơ bản chưa đủ đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo và chưa phân bổ đủ thời gian để phát triển kỹ năng thực hành CTXH. Do đó đến năm 2010, chương trình khung quốc gia đào tạo CTXH đã được sửa đổi và cũng trong thời gian này, chính phủ đã phê duyệt Đề án 32 phát triển nghề CTXH giai đoạn năm 2010- 2020 với mục tiêu công nhận CTXH là một nghề trong xã hội (Nguyễn Thị Thái Lan, 2012). “CTXH bao gồm an sinh trẻ em (ASTE) góp phần đào tạo đội ngũ thực hành và phát triển lĩnh vực ASTE” (Whitaker, 2012, tr. Việc chuyên nghiệp hóa CTXH được thực hiện bởi chính phủ Việt Nam, các tổ chức chăm sóc bảo vệ trẻ em quốc tế và các bên liên quan.
Các chuyên gia BVTE đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của CTXH tại Việt Nam khi có nhiều trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật có nhu cầu đặc biệt. Để chăm sóc, BVTE và gia đình đồng thời đáp ứng nhu cầu của họ thì cần đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ làm CTXH (Khadijah Madihi, Sahra Brubeck, 2018). Nhiều ca trẻ em bị lạm dụng và bạo lực trong trường học và cộng đồng đã làm tăng áp lực và nhu cầu của xã hội dẫn đến sự thay đổi và cam kết giải quyết bạo lực với trẻ em của hệ thống chính trị. Sự thay đổi về cơ cấu trong hệ thống an sinh cụ thể là sát nhập nhiều đơn vị cấp cơ sở đã khiến cho chất lượng của đội ngũ cán bộ bị giảm trong việc giải quyết nhu cầu ngày càng cao của ASXH bao gồm các vấn đề về BVTE (UNICEF, 2019c, tr.
Các công trình nghiên cứu đã mô tả khái quát sự phát triển của CTXH và BVTE trong nước và trên thế giới và các lĩnh vực hoạt động đa dạng của người làm CTXH trong hệ thống ASXH như: các hoạt động từ thiện, giảm nghèo, hỗ trợ bệnh viện, nhà tù cho thanh thiếu niên và trẻ em có vấn đề về sức khỏe tâm thần, cung cấp dịch vụ. Kết quả của mỗi nghiên cứu khác nhau từ những góc nhìn khác nhau của nhà nghiên cứu đã khái quát những điểm mạnh cũng như những tồn tại của CTXH và BVTE. Các nghiên cứu đã thể hiện rõ ý nghĩa nhân văn và tầm quan trọng 19 của CTXH trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề BVTE. CTXH đã phát triển chuyên nghiệp ở một số nước trên thế giới nhưng năng lực của người làm CTXH vẫn còn hạn chế.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự thiếu hụt về năng lực của người làm CTXH khi làm việc với trẻ em. Một số nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khái quát hiện tượng và chủ yếu dựa trên tài liệu thứ cấp, chưa thể hiện rõ phương pháp nghiên cứu, vai trò và sự tham gia của người làm CTXH trong hệ thống BVTE, đặc biệt, chưa có nghiên cứu cụ thể về năng lực BVTE của người làm CTXH cấp cơ sở. Các nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm của người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em Vai trò, trách nhiệm của người làm CTXH đã được xác định cụ thể trong các nghiên cứu khác nhau. Tài liệu nghiên cứu của Statham, Cameron và Mooney (2006) đã xác định các vai trò của người làm CTXH bao gồm: vai trò là người biện hộ, nhà tham vấn, quản lý trường hợp, người cộng tác, người đánh giá nguy cơ, quản lý chăm sóc và vai trò làm tác nhân kiểm soát xã hội.
Việc kết hợp và ưu tiên sử dụng vai trò nào còn tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng và bối cảnh làm việc của người làm CTXH (Statham và cộng sự, 2006, tr. Vai trò, trách nhiệm của người làm CTXH được mở rộng thêm là người bảo vệ, người cộng tác, người điều phối, người biện hộ, người đảm bảo các quyền của thân chủ và là người tạo sự thay đổi đảm bảo sự công bằng xã hội (Dominelly, 2009, tr. Ngoài các vai trò đã đề cập ở trên, Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế đã xác định các vai trò, trách nhiệm của nhân viên CTXH trong các hệ thống bảo trợ xã hội là đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào việc phát triển các hệ thống xã hội và đối xử với mọi người bằng sự liêm chính và tôn trọng, đảm bảo các quyền con người và công bằng xã hội. Người làm CTXH có vai trò điều phối giữa các dịch vụ công với các hệ thống dịch vụ cộng đồng và gia đình nhằm tăng cường vai trò của gia đình, cộng đồng và tăng cường sự tiếp cận cho người dân; vai trò vận động các dịch vụ sẵn có tại cộng đồng, vận động các dịch vụ bảo trợ xã hội tạo khả năng tiếp cận tối đa cho người dân tránh sự trùng lặp (IFSW, 2016).
20 Có thể thấy nhân viên CTXH thực hiện nhiều vai trò đa dạng khác nhau nhưng cùng chung mục tiêu tăng cường an sinh cho cá nhân, gia đình, và cộng đồng, đảm bảo công bằng xã hội và sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cho họ. Những người làm việc với trẻ em và gia đình, cha mẹ/người chăm sóc cần phải hiểu rõ vai trò của họ và vai trò của cơ quan BVTE tại địa phương (Sở Giáo dục Anh, 2018, tr.