MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những lao động trong xã hội bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội.
Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại. Nền văn hoá dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ [26]. Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ.
Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình. Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng,… Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam. n 2 Tuấn Mậu là một xã miền núi của huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống, và có đến 50,5% dân số là phụ nữ.
Lực lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn xã. Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường người phụ nữ phải "nặng gánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mặt rong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có như mọi người, sức khoẻ lại hạn chế,. Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhưng quyền lợi về mọi mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức.
Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ, nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao? Giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn miền núi tại xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá như mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra. Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển của hộ ở xã Tuấn Mậu huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang” 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ n 3 nông thôn, đưa ra giải pháp và khuyến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội xã Tuấn Mậu.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu có liên quan đến phát triển kinh tế hộ gia đình. - Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò và đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội của hộ gia đình nông thôn tại địa bàn nghiên cứu. - Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên. + Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn + Những nghiên cứu và kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho các tổ chức của nhà nước, các tổ chức xã hội và người dân tham khảo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng cũng như phát triển kinh tế xã hội nói chung.
+ Thấy được tầm quan trọng của phụ nữ và những mặt hạn chế của phụ nữ khi tham gia vào xã hội để có giải pháp khắc phục. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm và thuật ngữ liên quan 2. Khái niệm về giới và các thuật ngữ liên quan Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ.
Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được [19]. Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền. Ví dụ: Người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ.
Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học nữ giới khác với nam giới. Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau.
Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được. Sự khác biệt này được nhìn thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính. Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80.
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới" đề cập đến việc phân công lao động các kiểu phân chia: Nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. “Giới” là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể.
"Giới" là sản phẩm của xã hội, có tính xã n 5 hội dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội * Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới: Đặc điểm về giới: - Không tự nhiên mà có - Học được từ gia đình và xã hội - Ða dạng (khác nhau giữa các vùng miền) - Có thể thay đổi được Nguồn gốc giới: - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tùy theo nó là trai hay gái. Ðó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình. Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh.
Ví dụ: Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ. Sự khác biệt về giới: Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép hộ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.