đặt vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ. Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù [13],[15]. Khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 2. Khái niệm hộ Có rất nhiều quan niệm khác nhau định nghĩa thế nào là hộ: - “Hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công” [3].
- “Hộ là một nhóm người chung một huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ” [3]. - “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức thu nhập chung” [3]. - “Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bào tồn chính bản thân họ và cộng đồng”. Khái niệm hộ nông dân Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và những hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Sự phân định hoạt động liên quan và không liên quan đến nông nghiệp trong các hoạt động phi nông nghiệp là khó do vậy nảy sinh khái niệm “hộ nông dân” [3],[15]. Hộ nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực của hộ nông dân là đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…, được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiếm chung của các thành viên và người lớn trong gia đình. Đặc điểm hộ nông dân: Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và snr xuất thể hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc.
Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường [3],[15].4 Khái niệm kinh tế hộ nông dân Theo Ellis- 1988 thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao [3]. Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau: - Đất đai: Nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. - Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận. Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hóa, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương.
- Tiền vốn: Chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ. Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường. Cơ sở thực tiễn 2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 2.
Vai trò của người phụ nữ trong hoạt động sản xuất phát triển kinh tế hộ gia đình Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ thể quan trọng trong đời sống các gia đình. Theo số liệu thống kê của Bộ lao động, thương binh và xã hội thì hiện nay phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước và hơn 49% lực lượng lao động. So với thế giới, Việt Nam có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao 83% trên tổng số nữ trong độ tuổi lao động [10]. Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình.
Cùng với chồng, người vợ cũng trở thành người tạo ra nguồn thu nhập chính. Ở nông thôn, khi mà người chồng đi làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao động chính, họ là chủ thế chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn, ở thành phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ. Và khi là người làm trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng n 8 nghiệp nam. Hiện nay, thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người đóng vai trò quan trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ [10].
Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Nhiều quan niệm cho rằng đây là những việc vặt và không quan trọng. Đây cũng chính là lí do mà vai trò và địa vị của người phụ nữ bị hạ thấp, là cơ sở căn bản tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ. Trong nền văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của đại gia đình, tính gia trưởng của đàn ông được đề cao.
Người phụ nữ trong các đại gia đình chỉ là những nhân vật phụ thuộc và vai trò của họ hết sức mờ nhạt. Gánh nặng công việc nội trợ vẫn đè lên vai người phụ nữ và hầu như chưa có sự chia sẻ của người chồng, người nam giới [7],[10]. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ nông thôn phải làm việc 8 - 16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày. Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có những dịch vụ và trang thiết bị gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình gấp 1,5lần so với nam giới [11].
Trong việc nuôi dạy con cái, phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn. Phần lớn các công việc cho ăn, chăm sóc, dạy học thường do người mẹ đảm nhận, nhất là thời kỳ em bé còn nhỏ. Sức khỏe và trình độ cũng như kiến thức của người mẹ giúp cho việc nuôi dạy con cái tốt hơn. Phụ nữ cũng được giao trách nhiệm chăm sóc người già, người bệnh, người tàn tật.
Họ phải làm việc vất vả, thời gian dài nhưng lại không tạo thu nhập ở hoạt động này so với chồng, họ phải chịu thiệt thòi nhiều hơn, thậm chí còn bị hiểu lầm bởi sự khó tính của người già, người bệnh. Rõ ràng vai trò của phụ nữ trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện những công việc nhằm nuôi dưỡng và tái sản xuất lao động của các thành viên trong gia đình. Những việc đồng thời phải thực hiện hai vai trò quan trọng là làm kinh tế và nội trợ gia đình đã làm họ tốn rất nhiều thời gian và trí lực. Hiện nay dù các quan hệ kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng quan hệ giới hầu như chưa có những chuyển biến kịp thời.
Do vậy, phụ nữ thay vì n 9 được giải phóng, được chia sẻ trong xã hội hiện đại thì vô hình chung họ trở thành người gánh chịu nhiều trách nhiệm và chịu nhiều thiệt thòi. Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển - Tiếp cận đất đai: Tuy luật đất đai năm 1993 đã bảo vệ quyền thừa kế đất đai của phụ nữ, nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông. Khi kết hôn phụ nữ về nhà chồng sống và phần đất của cặp vợ chồng này do gia đình chồng chia cho. Khi ly hôn, người phụ nữ trong mọi trường hợp đều không được nhận đất bồi thường.
Những phụ nữ góa chồng thì được quyền sử dụng đất nhưng lại gặp khó khăn trong việc chứng nhận quyền sử dụng đất của mình. Khi trong gia đình có một người con trai trưởng thành thì thường lấy tên người con trai đó ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi không có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người phụ nữ rất khó có thể thế chấp để vay vốn vì ở nông thôn tài sản thế chấp để vay vốn phổ biến nhất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [13]. Việc sửa đổi mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó ghi tên cả vợ và chồng hiện nay là một việc làm tích cực tạo thuận lợi cho phụ nữ trong việc tiếp cận vốn tín dụng.
- Tiếp cận vốn: Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tín dụng vì có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống và phi chính thống. Là người tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cũng tham gia vào các quyết định phát triển của gia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn và tiết kiệm. Thông qua sự ủy thác của Ngân hàng chính sách xã hội, hội phụ nữ các địa phương đã thực hiện việc cho vay vốn tới các hội viên kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi [13,[14]. - Tiếp cận với KHKT: Sự tiếp cận KHKT thông qua hệ thống khuyến nông nhà nước và khuyến nông tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đối với phụ nữ nông thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn.
Ngoài công việc sản xuất kinh doanh, phụ nữ còn phải làm công việc gia đình và tham gia vào các hoạt động khác. Quỹ thời gian không cho phép họ tham gia vào các khóa tập huấn dài ngày hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đi lại. n 10 Thường thì những ý kiến họ nhận được từ các khóa tập huấn có thể áp dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến khóa tập huấn thường không chú ý nghe hay tham gia bởi họ nghĩ là họ biết hết. Sau đó, họ lại không truyền đạt những gì họ học được cho vợ, con.
Những người phụ nữ có trình độ học vấn cao, có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật tốt hơn. Tuy nhiên, trình độ của phụ nữ nông thôn thấp khiến việc tiếp cận KHKT của họ bị hạn chế.