CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về tham vấn cộng đồng trong quản lý đất đai 1. Lý luận về quản lý đất đai 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý đất đai “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó: bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước mặt (hồ, sông, nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật) trạng thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” (Đoàn Công Quỳ và cs.
Đất đai đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của loài người. Không có đất thì không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người (Đường Hồng Dật, 1994). Trong tác phẩm Dư Địa chí của Phan Huy Chú có viết “Của báu của một nước không gì quý bằng đất đai; nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra”. Quản lý hành chính về đất đai: liên quan đến việc xây dựng cơ chế quản lý quyền đối với đất đai và sử dụng đất, quá trình sử dụng đất và giá trị của đất đai thuộc thẩm quyền của Chính phủ để thúc đẩy quản lý đất đai hiệu quả, bền vững và bảo đảm quyền về tài sản (Tommy, 2011).
Quản lý sử dụng đất đai: bao gồm các quy trình để sử dụng tài nguyên đất có hiệu quả. Đây chủ yếu là trách nhiệm của chủ sở hữu đất. Chính phủ cũng có mục tiêu tăng cường quản lý đất đai hiệu quả như là một phần của mục tiêu thúc đẩy phát triển KTXH bền vững (Tommy, 2011). Quản trị đất đai: thể hiện trách nhiệm của Chính phủ trong quản lý đất đai thông qua việc tập trung vào các ý chính và tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả.
Quản trị đất đai có thể hiểu được là cách Chính phủ điều hành cơ chế quản lý đất đai (Tommy, 2011). Quản lý Nhà nước về đất đai: được sử dụng tại các nước khác nhau với 5 nhiều nghĩa khác nhau. Quản lý Nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý hành chính đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất. Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau (Tommy, 2011).
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm quản lý hành chính về đất đai với nghĩa quản lý Nhà nước về đất đai tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất như đã nêu trên. Hệ thống quản lý đất đai Liên hiệp quốc đã xác định: HTQLĐĐ bao gồm hệ thống về hành lang pháp lý, hệ thống về tổ chức và hệ thống thực hiện để đảm bảo một hệ thống thống nhất cho công tác quản lý đất đai có hiệu quả và bảo hộ về quyền sở hữu đất, giá trị đất, sử dụng đất và các tài liệu khác liên quan đến đất (United Nation, 1996). Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của HTQLĐĐ bao gồm pháp luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai, trong công việc này, Nhà nước phải xác định một số nội dung chủ yếu như: sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước, tập trung và phân cấp; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính; quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế (United Nation, 1996). Theo Nguyễn Đình Bồng và cs.
(2005), cấu trúc của HTQLĐĐ bao gồm 2 thành phần chính đó là: (i) Nền tảng quản lý đất đai gồm: pháp luật đất đai; QHSDĐ; thanh tra đất đai; (ii) Cơ sở hạ tầng quản lý đất đai còn gọi là hệ thống địa chính gồm: hồ sơ địa chính; đăng ký đất đai; định giá đất và hệ thống tin đất đai. Cơ sở lý luận về cộng đồng và tham vấn cộng đồng 1. Một số khái niệm cơ bản a) Cộng đồng Theo Walia (2008) “cộng đồng” được hiểu và diễn giải khác nhau từ những người khác nhau. Tuy nhiên nói một cách phổ quát “cộng đồng” là đời sống KTXH 6 trên một khu vực địa lý, có các tâm lợi ích và hoạt động chung và được nhận dạng bởi sự gắn kết xã hội.
Nhìn gần hơn, cộng đồng được hình dung thông qua những nhóm xã hội cùng chia sẻ một môi trường, trong một phạm vi địa lý. Nơi họ cùng nhau nỗ lực, chung niềm tin, chung nguồn tài nguyên, cùng có nhu cầu và chịu cùng rủi ro cũng như hàng loạt những điều kiện chung khác đang tác động đến cuộc sống của họ. Theo Viện Ngôn ngữ học (2002) “Cộng đồng gồm toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội, như: cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng làng xã, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”. Cộng đồng tộc người là cộng đồng người mang những đặc trưng về tên gọi, ngôn ngữ, văn hóa.
giống nhau, có thể gồm một hay nhiều tộc người thân thuộc. Theo Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam tập 1 (1995): “Cộng đồng xã hội - CĐXH là một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm sinh tụ và cư trú. Như vậy, CĐXH bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ biến tổng quát, đó là những đặc trưng chung về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, về lối sống. Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một CĐXH; khẳng định tính thống nhất của một CĐXH trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các CĐXH trên quy mô nhỏ hơn.
Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau (Korten, 1987). Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (Quốc hội Nước CHXHCNVN, 2004), khái niệm về “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng có thể khái quát thành 2 loại quan điểm chính: Thứ nhất, “cộng đồng” là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về văn hóa, KTXH truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau thường có ranh giới không gian trong một thôn bản. Theo quan điểm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn bản”. Thứ hai, “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói lên các nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống.
Như vậy, theo quan điểm 7 này, “cộng đồng” không phải chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc trong thôn; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn. Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000), cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên. Các đặc điểm đó có thể là: đặc điểm về KTXH (cộng đồng làng xã, khu dân cư đô thị); huyết thống (cộng đồng của các thành viên thuộc một họ tộc); mối quan tâm và quan điểm (nhóm sở thích trong một dự án phát triển; môi trường, nhân văn (cộng đồng đồng bào dân tộc Vân Kiều tại huyện Hướng Hóa) và các đặc điểm khác như tổ chức, vùng địa lý hoặc các khía cạnh về tâm lý, v.v… Trong luận án này, thuật ngữ “cộng đồng” sử dụng được hiểu: cộng đồng bao gồm những người cùng sống trên một khu vực địa lý có những đặc điểm xã hội chung về văn hóa, KTXH, truyền thống, phong tục tập quán và có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống. b) Tham vấn Theo Viện Ngôn ngữ học (2002), tham vấn là cách mà đối tượng chủ thể thường dùng hỏi hoặc tham khảo ý kiến của các khách thể về vấn đề mà chủ thể dự kiến sẽ đưa ra hoặc ban hành.
Trong luận án này, tác giả sử dụng khái niệm đã được Từ điển Tiếng Việt xác định trên là: “Tham vấn ” với nghĩa “hỏi hoặc phát biểu ý kiến để tham khảo”. c) Tham vấn cộng đồng Tham vấn cộng đồng là việc một cộng đồng được tham khảo (hỏi hoặc phát biểu ý kiến) về những mối quan tâm của họ về một chủ trương, chính sách hay kế hoạch, dự án nào đó. Đây là cơ hội cho mọi người có thể bày tỏ ý kiến của họ, bằng cách này họ có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định (Hiệp hội các Đô thị Việt Nam, 2010). Trong luận án này, thuật ngữ “tham vấn cộng đồng” sử dụng được hiểu là việc thực hiện tham khảo ý kiến về những chủ trương, chính sách, dự án dự kiến sẽ được ban hành của các cơ quan, tổ chức được giao chủ trì; thông báo các nội dung liên quan đối với đối tượng là “cộng đồng”.
Ý nghĩa của tham vấn cộng đồng Tham vấn cộng đồng giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng, đề cao vai trò cộng đồng khuyến khích các sáng kiến cộng đồng và việc tự khởi xướng các hoạt động cộng đồng trong đời sống, xã hội (Hiệp hội các Đô thị Việt Nam, 2010). Tham vấn cộng đồng sẽ đem lại một môi trường sống trong lành, bình đẳng, bác ái cho mọi người. Củng cố thêm tình đoàn kết giữa con người với con người, con người với xã hội trong phạm vi vùng lãnh thổ. Tham vấn cộng đồng giúp tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các chính sách công (Peter, 1999).
Cải thiện chất lượng của các quyết định; tạo nên sự đồng thuận; tạo sự thuận lợi trong quá trình thực hiện; trách nhiệm đối mặt với những trường hợp xấu nhất; duy trì sự tín nhiệm và tính hợp pháp; giảm thiểu chi phí nguồn tài chính, nhân lực, thời gian.