PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Chiến dịch dùng hóa chất trong chiến tranh ở Việt Nam của quân đội Mỹ là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã sử dụng gần 80 triệu lít chất độc hóa học ở miền nam Việt Nam. Những chất độc hóa học đó bao gồm chất da cam, chất xanh da trời (chứa cyanide để hủy diệt các cánh đồng lúa), chất xanh lá cây, chất trắng, chất tím, chất hồng tùy thuộc vào loại sinh vật mà nó được chế tạo để hủy diệt.
Trong đó, độc hại nhất là chất độc da cam/dioxin (2,3,7,8 – TCDD). Theo Stellman (2003) và NAS (2003) tổng số lượng Dioxin mà Việt Nam phải hứng chịu là 366 kg và số người bị phơi nhiễm trong khoảng thời gian chiến tranh vào khoảng 2,1 – 4,8 triệu người. Sân bay Biên Hòa là một căn cứ chính của chiến dịch Ranch Hand tại miền Nam Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây cho thấy mức độ ô nhiễm dioxin tại Biên Hòa là rất cao (Dự án Z1, Bộ Quốc Phòng, Công ty Hatfield và Ban 10-80, 2007).
Tại các khu vực trước đây là bồn chứa, chất đôc hóa học/dioxin đã thấm sâu vào đất và có khả năng ảnh hưởng đến mạch nước ngầm. Từ khu vực bồn chứa, việc nạp chất độc lên máy bay và việc rửa máy bay sau khu phun rảỉ, chất độc hóa học/dioxin đã lan tỏa ra xung quanh theo địa hình và dòng nước chảy, gây ô nhiễm trên diện rộng, nhất là các hồ xung quanh mà trước đây người dân vẫn sử dụng cá, tôm đánh bắt được trong hồ làm thực phẩm và chăn thả gia súc, gia cầm. Do đó dẫn đến khả năng phơi nhiễm của người dân sống ở khu vực phụ cận sân bay Biên Hòa là rất lớn. Theo cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), dường như không có mức độ phơi nhiễm dioxin nào được coi là an toàn.
Hàm lượng gây dioxin gây chết ở chuột là 0,0022mg/kg cân nặng, gây chết ở người là 0,1mg/kg cân nặng [21,tr.117] 7 Footer Page 7 of 107. Header Page 8 of 107. Nhận thức rõ được mối nguy hại của CĐHH/dioxin và các chất độc tồn lưu sau chiến tranh đối với môi trường và con người, từ những năm 1970 các nghiên cứu về CĐHH/dioxin tại miền nam Việt Nam đã bắt đầu được thực hiện. Cho đến nay đã có rất nhiều dự án đã được tiến hành về điều tra, đánh giá sự tác động tồn lưu CĐHH/dioxin, ảnh hưởng của chất độc đến sức khỏe của người dân sống trong khu vực có điểm nóng; Nghiên cứu nhằm giảm thiểu ô nhiễm và tẩy độc; Đánh giá mức độ ô nhiễm dioxin,.
Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của CĐHH/dioxin đối với sức khỏe của con người đã cho thấy, những người mắc bệnh liên quan đến CĐHH/dioxin không chỉ là những người sống và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam mà nó tích tụ trong mô của họ và sau đó chuyển sang các thế hệ tiếp theo. Không chỉ vậy, những người chuyển từ nơi khác đến sinh sống tại những khu vực có tồn lưu CĐHH/dioxin cao thì cũng có khả năng phơi nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp và qua đường ăn uống. Báo cáo: “Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc hóa học/dioxin, đề xuất giải pháp khắc phục” do Ban chỉ đạo 33 nghiên cứu tại thành phố Biên Hòa năm 2008 đã chỉ ra rằng, trong số 10 gia đình có nạn nhân chất độc da cam thì chỉ có 1 hộ gia đình cư trú tại địa bàn vào thời điểm trước năm 1975. Có 7 hộ chuyển từ nơi khác đến địa bàn này trong thời gian từ 1976 đến 1997 và có 2 hộ gia đình nạn nhân có thời gian cư trú tại khu vực này từ năm 1998 đến thời điểm nghiên cứu [3].
Trong các lĩnh vực nghiên cứu nói trên thì việc nghiên cứu về đánh giá của người dân của các khu vực bị ảnh hưởng CĐHH/dioxin nói chung và người dân thành phố Biên Hòa nói riêng về tác hại và cách phòng tránh phơi nhiễm CĐHH/dioxin còn rất hạn chế. Cho tới thời điểm này, tại sân bay Biên Hòa phát hiện thêm nhiều điểm ô nhiễm mới với mức độ ô nhiễm vượt cao hơn gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Việc ngăn chặn lan tỏa dioxin tại sân 8 Footer Page 8 of 107. Header Page 9 of 107.
bay Biên Hòa ra môi trường xung quanh vẫn chưa được xử lý triệt để, do đó nghiên cứu về đánh giá của người dân thành phố Biên Hòa về CĐHH/dioxin trở nên đặc biệt cấp thiết. Xuất phát từ nhu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu Dư luận xã hội về vấn đề nhiễm chất độc hóa học tại thành phố Biên Hòa (Nghiên cứu trường hợp tại phường Trung Dũng và phường Tân Phong) để tìm hiểu đánh giá của người dân mức độ ô nhiễm, con đường phơi nhiễm dioxin và về đời sống của nạn nhân chất độc màu da cam. Thông qua hệ thống chức năng của dư luận xã hội, các kết quả nghiên cứu có thể là những gợi ý hữu ích trong việc nâng cao nhận thức của người dân về tình trạng nhiễm CĐHH/dioxin tại Biên Hòa. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chiến dịch rải chất diệt cỏ của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (Chiến dịch Rank Hand) là cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất, quy mô nhất và kéo dài nhất trong lịch sử.
Việt Nam đã phải hứng chịu một khối lượng dioxin khổng lồ trong một thời gian dài, liên tục, do đó Việt Nam phải gánh chịu hậu quả nặng nề về môi trường và sức khỏe con người sau chiến tranh.Tôn Thất Tùng là nhà khoa học đầu tiên ở Việt Nam nêu lên vấn đề tác hại lâu dài của chất dioxin đối với sức khỏe của nhân dân. Năm 1970, giáo sư Tôn Thất Tùng cùng với một phái đoàn khoa học của Việt tham dự hội nghị Orsay- Paris đã tố cáo chất độc hóa học, dioxin đã gây ra ung thư, đột biến gen dẫn tới dị tật bấm sinh và các tai biến sinh sản. [21] Các nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm dioxin ở miền Nam Việt Nam đã được thực hiện từ những năm đầu 70 của thế kỷ 20 (Papke và cs, 2003) bắt đầu từ các nghiên cứu của Baughman và Meselson trong các năm 1973 -1974. Họ là người đầu tiên phân tích dioxin trong các mẫu cá, tôm lấy ở các sông ở miền nam Việt Nam.
[3] 9 Footer Page 9 of 107. Header Page 10 of 107. Ủy ban quốc gia điều tra các hậu quả của chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam được thành lập vào tháng 10 năm 1980, gọi tắt là Ủy ban 10-80 (nay là Ban 10-80). Uỷ ban 10 – 80 đã phối hợp cùng Công ty tư vấn môi trường Hatfield, Canada do cố Giáo sư Hoàng Đình Cầu lãnh đạo đã tiến hành nghiên cứu độ tồn lưu Dioxin ở khu vực ASo – ALưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và đề ra những giải pháp khắc phục ô nhiễm Dioxin cho nhân dân sống trong vùng.
Đồng thời, xây dựng các bản đồ băng rải chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Đây chính là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có quy mô về độ tồn lưu Dioxin ở Viêt Nam. Công trình nghiên cứu đã có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao trong công tác khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (gọi tắt Ban chỉ đạo 33) thay thế Ủy ban 10-80.
Từ năm 1999 -2005, Nhà nước đã tổ chức và chi kinh phí cho 22 đề tài Khoa học và công nghệ nhằm khắc phục hậu quả chất độc hóa học/Dioxin dùng trong chiến tranh. Đây được gọi là Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh, gọi tắt là Chương trình 33. Chương trình 33 bao gồm 22 đề tài với tổng kinh phí là 47 tỉ VNĐ (tương đương hơn 3 triệu USD). Các chương trình và đề tài nghiên cứu nói trên đã tiếp cận dưới góc độ y học, di truyền hoc, sinh hóa học và các dự án khắc phục hậu quả chất độc trong chiến tranh đối với môi trường, các hệ sinh thái sức khỏe con người (Nguyễn Hữu Thụ, 2012).
Điều đáng lưu ý là ở nước ra, nếu hậu quả về môi trường và sức khỏe con người do CĐHH/dioxin để lại đã và đang được nghiên cứu, làm sang tỏ thì hậu quả về tâm lý ở các nạn nhận vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Có thể nói, cho 10 Footer Page 10 of 107. Header Page 11 of 107. đến thời điểm hiện tại thì chưa có một đề tài khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyện sâu về các vấn đề sức khỏe tâm lý ở nạn nhận CĐHH/dioxin hay ảnh hưởng của các chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh đối với sức khỏe tâm lý của con người.
Năm 2002, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban tư tưởng Văn hóa trung ương đã tiến hành một cuộc thăm dò dư luận xã hội về Khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Mục đích của cuộc thăm dò này là thu thập thông tin về quy mô và mức độ ảnh hưởng của chất độc mầu da cam ở 2000 người được hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 98% người được hỏi biết về chất độc mầu da cam, 94% số người được hỏi trả lời là các nguyên nhân chính làm gia tăng các hiện tượng tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh và các loại bệnh nan y là do chất độc hóa học, 95% người trả lời biết về đối tượng dễ có nguy cơ nhiễm chất độ hóa học là những người trong thời gian chiến tranh sống và chiến đấu ở những vùng bị Mỹ rải chất độc hóa học [12]. Đây là một trong số ít các nghiên cứu về khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam từ hướng tiếp cận Dư luận xã hội.
Năm 2003, một trong những cuốn sách đầu tiên về chất độc da cam của tác giả Lê Kế Sơn đã làm rõ nhiều vấn đề quan trọng: Lịch sử chiến tranh da cam ở Việt Nam, ảnh hưởng của chất độc da cam đến môi sinh và sức khỏe con người, tình hình khắc phục hậu quả của chất da cam ở Việt Nam,v.