Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm và bức tranh kinh tế hộ gia đình ở Việt nam 1. Khái niệm kinh tế hộ gia đình Gia đình là một cộng đồng gồm những người chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống và hôn nhân. Gia đình là một tế bào của xã hội, nó có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Gia đình chỉ có bố mẹ và con cái được gọi là gia đình hạt nhân, chính từ gia đình này đã hình thành nhiều mối quan hệ đan xen, hoà quyện với nhau tạo nên các cộng đồng xã hội khác nhau. Gia đình với tư các là tế bào của xã hội đã tồn tại lâu đời trong lịch sử, nó là cốt lõi của các thiết chế xã hội phức tạp hơn như quan hệ dòng họ, làng xã, dân tộc… Theo Ăng-ghen thì gia đình có hai chức năng cơ bản là sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất sức lao động cho xã hội để duy trì nòi giống và tiếp tục phát triển. Vậy hộ gia đình là đơn vị nhỏ nhất để sản xuất ra của cải vật chất. Bên cạnh đó hộ gia đình còn là một cơ sở giáo dục, một đơn vị tổ chức đời sống cho các thế hệ, đồng thời còn là một đơn vị ứng dụng, tiếp thu các công nghệ và kỹ thuật mới của xã hội vào sản xuất.
Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ một kiểu nhóm xã hội gồm tập hợp những người sống chung với nhau trên cơ sở lấy quan hệ gia đình làm nền tảng. Xét trên những góc độ nhìn nhận khác nhau người ta sẽ đưa ra các khái niệm khác nhau về hộ gia đình. Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm về hộ, mỗi khái niệm đề cập đến một phương diện nhất định: Trên phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ. Theo Martin (1988) thì “hộ là đơn vị cơ bản có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Theo Raul (1989): “Hộ là tập hợp những người có cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn 6 chính bản thân và cộng đồng”. Theo từ điển Weberter (1990): “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ”. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phân biệt giữa khái niệm hộ và khái niệm gia đình: - Hộ cũng được coi là một đơn vị tế bào của xã hội, nhưng hộ và gia đình không hoàn toàn giống nhau. Giữa hai khái niệm này có những điểm chung, điểm khác biệt.
Gia đình được đặc trưng bởi quan hệ huyết thống và địa điểm sinh sống tức là những người trong gia đình bắt buộc phải có quan hệ huyết thống với nhau và ở chung dưới một mái nhà (chung sống đây không đơn thuần là ở chung mà rộng hơn nó chỉ trách nhiệm và nghĩa vụ trong hoàn cảnh đình mình). Khái niệm hộ được đặc trưng bởi địa điểm cư ngụ và quan hệ về kinh tế. - Hộ gia đình và gia đình chỉ có thể có điểm giống nhau nếu như các thành viên trong gia đình sống chung dưới một mái nhà, bởi vì trong một số gia đình, các thành viên khi trưởng thành có thể thoát li, lập nghiệp xa gia đình nhưng họ vẫn được coi là thành viên của gia đình đó. Kinh tế hộ gia đình là khái niệm để chỉ các hoạt động kinh tế của một hộ gia đình dựa trên các cơ sở: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, cùng sống chung và có kinh tế chung.
Bản chất kinh tế hộ gia đình là kinh tế tiểu nông, là hình thức kinh tế của thành phần sản xuất nhỏ của nông dân với đặc trưng cơ bản là sản xuất tự cấp, tự túc trong quy mô hộ gia đình. Các quan điểm, chủ trương và chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình * Các quan điểm phát triển kinh tế hộ gia đình: - Quyết định số 184 của Hội đồng bộ trưởng (HĐBT) ngày 06/11/1982 về việc giao đất giao rừng cho các tập thể, các hộ công nhân và nông dân để sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp nhằm thực hiện khẩu hiệu “gắn dân với rừng” ngăn chặn việc phá rừng bừa bãi nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và phát triển kinh tế miền núi. Trong phần nội dung có đoạn viết “đối tượng giao 7 đất là các tập thể, Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, hộ gia đình trong lâm trường, các hộ gia đình nông dân”. Như vậy là thời kỳ này hộ gia đình đã được tạo cơ hội cho phát triển thông qua giao khoán đất.
- Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 05/04/1988 về đổi mới cơ chế quản lí nhà nước. Nghị quyết thừa nhân kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ có đầy đủ tư cách pháp nhân, được nhà nươc giao quyền sử dụng các tư liệu sản xuất, kể cả đất đai. - Nghị quyết 22 ngày 26/11/1989 của Bộ chính trị: “trong chặng đường đầu tiên cũng như trong một thời gian dài của thời kỳ quá độ, kinh tế hộ gia đình là hình thức thích hợp để phát triển hàng hoá ở miền núi, do vậy cần được khuyến khích, giúp đỡ”. - Quyết định 327 của HĐBT ngày 15/9/1992 về một số chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước, trong đó có đoạn: “lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, lấy đơn vị quốc doanh làm đơn vị kinh tế”.
- Nghị định số 85/1999/NĐ-CP, ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. - Nghị định số 163/1999/NĐ-CP, ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. - Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10. - Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn”, chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để 8 bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
* Các chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình Hiện nay Đảng và Nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm đẩy mạnh sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội nước ta. Qua nhiều năm nay Nhà nước đã áp dụng các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, các chương trình mục tiêu, đặc biệt quan tâm đến kinh tế hộ gia đình miền núi và đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Chính sách đất đai: Gồm hai nội dung chính là xác lập quyền sử dụng đất đai và quy định quyền hạn, nghĩa vụ đối với diện tích đất được giao. Người nhận đất được quyền sử dụng đất, được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất được giao.
Các quyền đó gồm: quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê. Nhà nước khuyến khích các hộ gia đình bỏ vốn, lao động để phát triển kinh doanh trên đất được giao và nhà nước bảo hộ và khoản thu nhập chính đáng. Chính sách vốn và tín dụng: Vốn là yếu tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình sản xuất nhưng hoạt động nông nghiêp lại là hoạt động có hiệu quả thấp, quay vòng vốn chậm nên kém thu hút vốn đầu tư. Vì vậy, nguồn vốn chủ yếu phụ thuộc chính sách vốn của nhà nước.
Nguồn vốn huy động gồm: Vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn huy động, vốn viện trợ. Chính sách khoa học công nghệ: Quan điểm chung là áp dụng KHCN thích hợp, lấy hộ nông dân làm đối tượng chính để chuyển giao kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất. Chính sách thị trường: Mở rộng thị trường nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, kinh tế hộ gia đình để nâng cao đời sống cho người dân. Phương hướng 9 chính là mở rộng thị trường vốn, thị trường TLXS và KHCN, thị trường nông lâm sản để người dân bán được sản phẩm của mình.
Chính sách xã hội: Bao gồm các chính sách dân số, lao động, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách dân chủ, công bằng xã hội. Bức tranh kinh tế hộ nước ta hiện nay và một số vấn đề đặt ra Nhìn chung mô hình gia đình hiện nay chỉ gồm 2 thế hệ. Những mô hình đại gia đình (tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường) còn lại rất ít. Quy mô các hộ gia đình cũng nhỏ dần, theo thống kê thì bình quân mỗi hộ gia đình có 6,5 nhân khẩu với 3,3 lao động.
Cùng với sự phát triển toàn diện kinh tế xã hội trên cả nước, kinh tế hộ gia đình đã có nhiều thay đổi, những thay đổi diễn ra trên nhiều mặt làm cho kinh tế hộ gia đình chuyển biến mạnh mẽ. Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân. Và mặc dầu phong trào hợp tác xã không còn phát huy tính tích cực như xưa, nhưng diện mạo kinh tế hộ nông dân đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mới, nâng cao thu nhập. Cơ cấu hộ nông dân theo ngành nghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộ tham gia sản xuất phi nông nghiệp như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; số hộ làm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 80,9% năm 2001 xuống còn 70,9% năm 2006.