Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa thực tiễn của đề tài… Chương 2. Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm, lý thuyết liên quan đến chi tiêu y tế, các nghiên cứu liên quan đến đề tài; Các lý thuyết có liên quan làm nền tảng lý luận cho nghiên cứu này; Những thuật ngữ, khái niệm… được dùng trong luận văn. Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày mô hình kinh tế, sự lựa chọn mô hình của tác giả, trình bày cơ sở dữ liệu và phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho y tế của hộ gia đình.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này trình bày các nội dung sau: Tổng quan về ĐBSCL; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình khu vực ĐBSCL; Kết quả nghiên cứu: Bảng biểu (thống kê, mô hình hồi quy); Phân tích và giải thích kết quả mô hình; So sánh với những nghiên cứu trước… Chương 5. Kết luận và Khuyến nghị Chương này tóm lược kết quả quan trọng của đề tài, từ đó đề xuất một số kiến nghị về mặt chính sách nhằm giảm gánh nặng chi tiêu cho y tế của hộ gia đình. Đồng thời chương này cũng trình bày các hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Chăm sóc sức khỏe Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ là một loại hình dịch vụ có đặc thù riêng nó liên quan đến sức khoẻ con người. Vì là loại hình dịch vụ nên quan hệ cơ bản giữa người sử dụng và người cung cấp là giá cả dịch vụ. Sức khoẻ của mỗi người đều không giống nhau và thời điểm, mức độ cần chăm sóc cũng không giống nhau nên không dự đoán được thời điểm và mức độ chi trả. Đây là chi phí không lường trước được nhưng buộc phải chi khi mắc bệnh.
Người sử dụng dịch vụ y tế hoàn toàn không tự chủ động lựa chọn dịch vụ mà bị phụ thuộc rất nhiều vào nhà cung ứng dịch vụ là các cơ sở y tế. Thực tế thầy thuốc sẽ quyết định phương pháp điều trị, thời gian điều trị cho người có nhu cầu khám chữa bệnh. Chính vì thế chi phí cho dịch vụ này là người có nhu cầu phải thanh toán nhưng họ không được lựa chọn giá dịch vụ mà hoàn toàn phụ thuộc vào cơ sở y tế và thầy thuốc. Dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền tới tính mạng con người cho nên dù không có tiền nhưng vẫn phải khám chữa bệnh.
Chi phí y tế Chi phí y tế là tổng số tiền chi trả của hộ gia đình cho sức khỏe bao gồm: ngăn ngừa, chăm sóc, chữa bệnh. Chi tiêu y tế theo Tổng cục thống kê gồm 5 thành phần chính: Chi phí khám, chữa bệnh ngoại trú gồm tiền công khám, chữa bệnh, tiền thuốc, đi lại, mua dụng cụ; chi phí những lần điều trị nội trú; chi phí gồm viện phí và các chi phí khác như tiền dịch vụ theo yêu cầu, mua thêm thuốc, dụng cụ, đi lại trông nom; chi phí mua bảo hiểm y tế; chi phí mua thuốc không qua khám để tự chữa hoặc để dự trữ và chi phí mua dụng cụ y tế. Chi tiêu cho y tế Theo Bộ Y tế, chi tiêu y tế là mọi khoản chi cho các hoạt động y tế mà mục tiêu đầu tiên là để nâng cao, phục hồi, hoặc duy trì sức khỏe cho toàn bộ dân số và cho cá nhân của một quốc gia. Những chi tiêu này bao gồm cả chi thường xuyên và chi cho hoạt động đầu tư phát triển.
Định nghĩa này được áp 7 dụng bất kể chủ thể là đơn vị đứng ra chi trả tiền là Nhà nước hay doanh nghiệp hay hộ gia đình hay các tổ chức tư nhân và đơn vị nhận tiền là đơn vị cung ứng dịch vụ thuộc Nhà nước quản lý hay do tư nhân quản lý. Các hoạt động y tế bao gồm: hoạt động nâng cao sức khỏe, phòng tránh bệnh tật; hoạt động chữa bệnh, giảm tử vong; hoạt động chăm sóc y tế với các bệnh mãn tính, cần các chăm sóc điều dưỡng. Chi tiêu y tế của hộ gia đình Theo Vụ kế hoạch tài chính (Bộ Y tế) định nghĩa: Chi tiêu y tế của hộ gia đình là mọi khoản chi trực tiếp của hộ gia đình chi khi ốm đau phải khám, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ, hàng hóa y tế. Bao gồm viện phí đã trả bất kể đơn vị cung ứng dịch vụ là công hay tư, tiền xét nghiệm, mua thuốc men, vật tư, thiết bị… bất kể tự mua hay có hóa đơn của thầy thuốc, mua tại bệnh viện, cơ sở nhà nước hay cơ sở tư nhân.
Những khoản người dân đóng góp để mua Bảo hiểm y tế (BHYT) không tính ở đây (vì đã được tính chi trong chi của quỹ BHYT). Các lý thuyết liên quan đến chi tiêu cho y tế 2. Lý thuyết về chăm sóc sức khỏe Theo Pauly (1978, 1988) chăm sóc sức khỏe thường được định nghĩa là tập hợp hàng hóa và dịch vụ có mục đích chính là cải thiện hay phòng ngừa sự đi xuống trong sức khỏe. Một người tiêu dùng có thể đối mặt trong lúc quyết định giữa việc uống một viên thuốc hay một cuộc giải phẫu trong tình trạng thông tin bất cân xứng.
Như vậy hàng hóa sự chăm sóc sức khỏe là một loại hàng hóa đặc biệt dưới góc độ phân tích kinh tế. Tuy nhiên quan điểm giữa các nhà kinh tế học sức khỏe về mức độ khác biệt giữa hàng hóa đặc biệt này so với hàng hóa bình thường là không giống nhau, từ đó quan điểm về tầm quan trọng của các yếu tố chăm sóc sức khỏe là khác nhau và ngụ ý của chúng đối với vấn đề chính sách và phương pháp phân tích đối với các vấn đề riêng biệt cũng không đồng nhất. Những quan điểm khác nhau khiến giới nghiên cứu trở nên rất đa dạng, nhóm có quan điểm rộng nhấn mạnh sự khác biệt của dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tin rằng những khác biệt này có những vai trò quan trọng trong hoạt 8 động của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khung phân tích với vấn đề này; nhóm có quan điểm hẹp tin rằng dịch vụ chăm sóc sức khỏe không quá khác biệt và thị trường này có thể được phân tích tốt với những mô hình tân cổ điển thông thường. Cầu chăm sóc sức khỏe là một trong rất nhiều những nhân tố tác động lên sức khỏe và từ góc nhìn kinh tế, nó chỉ đơn thuần là một đầu vào trong sự tạo sức khỏe.
Do đó, không như những hàng hóa khác vốn được tiêu dùng vì sự thỏa dụng trực tiếp mà chúng mang lại, sự chăm sóc sức khỏe được tiêu dùng để tạo ra sức khỏe, ở đây sức khỏe mới là hàng hóa được mong muốn. Trong thực tế, sự chăm sóc sức khỏe thường là một hàng hóa xấu có hiệu ứng trực tiếp làm giảm thỏa dụng. Phần lớn chúng ta đều thấy vui vẻ nếu không bao giờ phải tiêu dùng chúng. Nhưng khi đau ốm, sự chăm sóc sức khỏe lại trở thành một hàng hóa tốt vì nó có tác động phục hồi sức khỏe, lợi ích này vượt trội những hiệu ứng không mong muốn trong ngắn hạn của việc tiêu dùng dịch vụ này.
Vậy cầu đối với sự chăm sóc sức khỏe đến từ cầu của chính sức khỏe (Grossman, 1972), một cầu phái sinh. Arrow (1963) chỉ ra hai dạng quan trọng của tính bất định trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: tính bất định trong cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tính bất định trong sự hiệu quả của phương án chữa trị. Vì sự đau ốm và các chấn thương ở mức độ cá nhân là những sự kiến rất ngẫu nhiên nên cầu của cá nhân đối với sự chăm sóc sức khỏe và khoản chi trả đi kèm cũng rất ngẫu nhiên. Dù cho những nghiên cứu y tế có thể chỉ ra tính hiệu quả trung bình của một phương án chữa trị trong những điều kiện nhất định nhưng chúng không thể mô tả liệu một phương án chữa trị có thể hiệu quả cho một cá nhân cụ thể trong một điều kiện cụ thể, có thể nói, trước khi một sự chữa trị diễn ra, luôn có một sự bất định trong hiệu quả của nó.
Việc tiếp cận và được chăm sóc, Legrand (1982) và Mooney (1998) cho rằng có sự khác biệt rạch ròi giữa “tiếp cận” và “được chăm sóc”. “Tiếp cận” bao gồm những cơ hội mà các cá nhân có thể có được, còn “được chăm sóc” phụ thuộc vào cả việc có tồn tại các cơ hội như vậy hay không và việc các cá nhân 9 có khả năng được lợi từ chúng không. Với suy nghĩ đó, Legrand gắn sự “tiếp cận” với hai yếu tố chi phí: thời gian và tiền bạc. Tuy vậy, điều này ngụ ý một thứ rất khó giải thích: khi hai người cùng đối mặt với chi phí thời gian và tiền bạc như nhau, họ sẽ có cùng mức “tiếp cận” bất chấp sự khác biệt về thu nhập.
Theo Tổ chức Hợp tác hành động vì công bằng sức khỏe (Partnership for Action in Health Equity - PAHE) tại Việt Nam (2011), chính sách sức khỏe y tế không chỉ giới hạn trong việc cung cấp và chi trả cho chăm sóc và dịch vụ y tế, ngày nay các yếu tố xã hội được nhìn nhận rộng rãi là có tác động đến sức khỏe. Theo đó, có 14 lĩnh vực chính của các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe bao gồm: phân phối thu nhập, giáo dục, tỷ lệ thất nghiệp, việc làm và điều kiện làm việc, sự phát triển đầu đời của trẻ, an ninh lương thực, nhà ở, loại trừ xã hội, mạng lưới an sinh xã hội, dịch vụ y tế, dân tộc, giới tính, tình trạng khuyết tật. Lý thuyết về chi tiêu cho y tế Trong báo cáo của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (United Nations Fund for Population Activities - UNFPA) tại Việt Nam (2011) để lượng hóa cụ thể vấn đề chăm sóc sức khỏe của người dân đã chia 14 nhóm lĩnh vực chính các yếu tố xã hội quyết định đến sức khỏe thành 4 nhóm yếu tố liên quan. Cụ thể bao gồm các nhóm về đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện chăm sóc sức khỏe (BHYT, điều kiện sinh hoạt,…) và tình trạng nghèo (trợ cấp, hỗ trợ của chính phủ) cũng ảnh hưởng đến sức khỏe.
Theo UNFPA Việt Nam (2011), các đặc điểm về trình độ giáo dục của hộ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người dân cũng như trẻ em.