phần mở đầu có thể nhanh chóng tìm hiểu chi tiết hơn những nội dung chính mà mình quan tâm trong phần mục lục của cuốn mục lục hồ sơ. Phần này chỉ dẫn một cách có hệ thống theo kết cấu logic chặt chẽ giữa các thành tố, các bộ phận thành mục lục hồ sơ trong đó giới thiệu rõ tên các đề mục lớn và vị trí trang tương ứng, giúp người đọc có thể xem nhanh những nội dung chính của cuốn mục lục hồ sơ và mở đọc những mục có chứa đựng những thông tin mà mình quan tâm. Một nguyên tắc được tuân thủ nghiêm ngặt trong mục lục hồ sơ là tính chính xác tuyệt đối giữa các thành phần ghi trên mục lục với tài liệu thực tế đang bảo quản trong phông. Công cụ tra cứu tài liệu đóng vai trò quan trọng trong các phòng, kho lưu trữ, đặc biệt là phục vụ công tác khai thác và sử dụng tài liệu.
Nếu các cơ quan, tổ chức chưa tiếp cận với hồ sơ, tài liệu thông qua hệ thống công cụ tra cứu tài liệu, vẫn có thể biết được những thông tin cần thiết về nội dung, thành phần của tài liệu, qua đó sẽ giúp tiết kiệm thời gian đối với người khai thác, sử dụng tài liệu. Ý nghĩa của tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ - Tổ chức khoa học tài liệu giúp cho việc quản lý hiệu quả tài liệu lưu trữ: Tổ chức khoa học tài liệu giúp cho nhà quản lý biết được số lượng, nội dung, thành phần, đặc điểm của tài liệu và toàn cảnh phông tài liệu. Thông qua hồ sơ phông của đơn vị hình thành phông sẽ biết rõ nội dung, thành phần, đặc điểm của tài liệu trong một phông và từng phông của tài liệu. Trên cơ sở đó có các kế hoạch bổ sung, sưu tầm nếu phông tài liệu đó chưa hoàn chỉnh.
Luan van 17 Bên cạnh đó, hồ sơ phông cho ta nắm rõ lịch sử đơn vị hình thành phông, lịch sử phông, phương án phân loại; bảng hướng dẫn xác định giá trị tài liệu, tình trạng vật lý, quá trình thu thập, chỉnh lý…Qua đó, nhà quản lý nắm rõ tình hình, đặc điểm của mỗi phông tài liệu để có những kế hoạch tiếp theo cho công tác phục vụ khai thác sử dụng phù hợp có hiệu quả, nhằm phát huy tối đa giá trị tài liệu. - Tổ chức khoa học tài liệu giúp phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ: Tổ chức khoa học tài liệu là công tác vô cùng quan trọng, vì chỉ có tổ chức khoa học tài liệu mới giúp phát huy tối đa giá trị của tài liệu mà bất kể cơ quan tổ chức nào nắm giữ, bởi thực tế đã chứng minh nếu có trong tay những tài liệu quý hiếm nhưng nếu không thể khai thác những tài liệu quý hiếm và giá trị đó thì cũng là điều vô nghĩa. Khi những tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của một cơ quan được tổ chức khoa học sẽ phục vụ cho việc khai thác sử dụng một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian công sức, từ đó phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ trong lịch sử, nghiên cứu, thực tiễn… - Tổ chức khoa học tài liệu giúp bảo quản an toàn, chặt chẽ, giữ gìn bí mật, không để mất mát và thất lạc tài liệu: Tài liệu lưu trữ không thể an toàn khi còn là bó, gói, đóng thùng carton và chất đống trong kho mang tính tạm bợ, đặc biệt đối với tài liệu giấy thì việc xuống cấp của tài liệu là điều khó tránh khỏi. Ngược lại khi tài liệu lưu trữ được tổ chức khoa học và bảo quản trong kho với đầy đủ các thông số về nhiệt độ, độ ẩm, tránh các loại côn trùng, chuột bọ… thì khối tài liệu đó đã được bảo quản một cách an toàn, nâng cao tuổi thọ của tài liệu.
- Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ giúp cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác lưu trữ được thuận lợi: Công nghệ thông tin luôn đem lại những lợi ích thiết thực, trong đó yếu tố nhanh, tiện dụng sẽ đáp ứng đúng mục tiêu của công tác lưu trữ là dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy. Tuy nhiên, việc áp dụng được công nghệ thông tin vào công tác lưu trữ hay không còn phụ thuộc vào việc tổ chức khoa học tài liệu, bởi lẽ, sau khi tài liệu được phân loại, xác định giá trị, lập thành hồ sơ thì việc hệ thống hóa và làm mục lục tổng hợp là công đoạn cuối cùng của việc tổ chức khoa học tài liệu. Luan van 18 Khi muốn ứng dụng công nghệ thông tin vào lưu trữ thì phải dựa trên một khối tài liệu hay một phông tài liệu đã được tổ chức khoa học hoàn chỉnh, đó là dựa trên các nội dung đã được ghi trên bìa hồ sơ mà các cán bộ lưu trữ đã ghi khái quát nhất, cô đọng nhất về nội dung trong hồ sơ đó như là tên hồ sơ, số đơn vị bảo quản, thời gian bắt đầu, kết thúc của hổ sơ, số lượng trang, thời hạn bảo quản…, từ đó cập nhập các số liệu này để sử dụng tra cứu trên các thiết bị công nghệ thông tin.1 Văn bản Luật - Ngày 03 tháng 01 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký bản Thông đạt số 1-C/VP, là một văn kiện có giá trị cao về mặt lý luận và thực tiễn của công tác lưu trữ của nước ta, đánh dấu mốc quan trọng, bước ngoặt đối với ngành lưu trữ Việt Nam. Thông đạt số 1-C/VP cũng đã đặt cơ sở, nền móng cho sự ra đời và hoạt động của công tác lưu trữ của nước ta, đánh dấu bước ngoặt đối với hoạt động của công tác lưu trữ.
Thực hiện tinh thần của Thông đạt, để nâng cao hơn nữa sự chỉ đạo toàn diện đối với quá trình xây dựng công tác lưu trữ Việt Nam, ngày 11 tháng 12 năm 1982, Chủ tịch Hội đồng nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia. Lần đầu tiên trong lịch sử công tác lưu trữ Việt Nam, những quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo chủ yếu của Đảng đã được thể chế hóa thành một văn bản pháp luật, trong đó đã quy định những vấn đề cơ bản nhất về tổ chức, quản lý tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ. Cũng từ đây, công tác lưu trữ ngày càng được Đảng, nhà nước quan tâm đặc biệt hơn. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công tác lưu trữ được xây dựng và ban hành tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của công tác lưu trữ.
Đỉnh cao của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đó là việc Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Lưu trữ năm 2011 quy định các nội dung quan trọng của việc tổ chức, quản lý lưu trữ. Luật Lưu trữ ra đời không chỉ đáp ứng tình hình phát triển của công tác lưu trữ và ngành lưu trữ trong thời kì đổi mới và hội nhập. Luật Lưu trữ ra đời và có hiệu lực một lần nữa khẳng định tinh thần, nội dung của Thông đạt ra đời hơn nửa thế kỷ trước đó là đúng đắn, kịp thời và có giá trị ý Luan van 19 nghĩa to lớn, góp phần quan trọng, định hướng cho sự hình thành, phát triển của công tác văn thư, lưu trữ, đáp ứng yêu cầu hoạt động của cơ quan, tổ chức, của bộ máy chính quyền, nhà nước, của cách mạng, kháng chiến. Nước ta không chỉ gìn giữ, lưu trữ bảo quản an toàn được khối lượng tài liệu đồ sộ sản sinh trong quá trình hoạt động của các cơ quan tổ chức, mà còn phát huy giá trị của nó phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.
Luật lưu trữ là căn cứ pháp lý cao nhất cho việc triển khai công tác lưu trữ nói chung và công tác tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ nói riêng.2 Văn bản dưới luật Kể cả trước và sau khi Luật Lưu trữ ra đời, có hàng loạt các văn bản dưới Luật cũng đã được ban hành để hướng dẫn thực hiện thống nhất công tác lưu trữ như: Thông tư số 09/2011/TT-BNV ngày 03 tháng 6 năm 2011 của Bộ Nội vụ quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu hình thành phổ biến trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức; Thông tư 07/2012/TT-BNV ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan; Quyết định số 128/QĐ-VTLTNN ngày 01/6/2009 của Cục Văn thư lưu trữ Nhà nước về việc ban hành quy trình “Chỉnh lý tài liệu giấy” theo tiêu chuẩn VN ISO 9001:2000; Công văn số 879/VTLTNN-NVĐP ngày 19 tháng 12 năm 2006 của Cục Văn thư lưu trữ Nhà nước về việc hướng dẫn tổ chức tiêu hủy tài liệu hết giá trị; Ngày 03 tháng 01 năm 2013 Chính phủ ra Nghị định số 01/2013/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật lưu trữ với các nội dung chính sau đây: Quy định về quản lý tài liệu điện từ như: Xác định giá trị tài liệu lưu trữ điện tử; các nguồn hình thành tài liệu lưu tữ điện tử; cách thu thập, bảo quản, sử dụng cũng như bảo đảm an toàn và bảo mật tài liệu điện tử; Hủy tài liệu điện tử. Quy định thời hạn nộp lưu tài liệu lưu trữ của ngành công an, quốc phòng, ngoại giao và của ngành khác vào lưu trữ lịch sử. Quy định một số trường hợp đặc biệt khi sử dụng tài liệu lưu trữ liên quan đến cá nhân. Quy định về thẩm quyền, thủ tục cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề lưu trữ.
Đây là văn bản pháp lý dưới luật quan trọng nhất để thực hiện các hoạt động lưu trữ thống nhất và đạt hiệu quả cao. Luan van 20 Đặc biệt, ngày 30/12/1016 Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư số 27/2016/TT-BGDĐT quy định thời hạn bảo quản tài liệu chuyên môn nghiệp vụ ngành Giáo dục. Thông tư này quy định thời hạn bảo quản tài liệu chuyên môn nghiệp vụ của ngành Giáo dục gồm 15 nhóm, được áp dụng đối với các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo; cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, các trường trung cấp sư phạm, trường cao đẳng sư phạm, trường đại học, các đại học, học viện, cơ sở giáo dục khác và các các tổ chức, cá nhân có liên quan.