Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán đối với các ĐVSNCL nói chung và các bệnh viện đa khoa Trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng trong quá trình trong điều kiện tự chủ tài chính là chủ đề có tính thời sự đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Tính tổng quát thể hiện thông qua việc tác giả tiến hành khái quát hóa những nghiên cứu mà các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã tìm hiểu về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan đến hướng nghiên cứu của tác giả, qua đó xác định các vấn đề nghiên cứu và nhằm minh chứng cho tính cấp thiết của luận án này. Do đó, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu được đánh giá là cần thiết nếu được xem xét tổng thể trong mối quan hệ với các nghiên cứu đã thực hiện trước đó.
Đến nay, đã có một số luận án tiến sỹ kinh tế, các đề án, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ liên quan đến đề tài của luận án này. Việc tổng quan các công trình khoa học đã nghiên cứu để chỉ ra cách tiếp cận vấn đề của tác giả, mục đích nghiên cứu của đề tài, vấn đề được giải quyết như thế nào? và đã giải quyết được đến đâu? đồng thời khẳng định những kết quả đạt được của công trình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Qua đó xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án.Cùng với quá trình đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với lĩnh vực hoạt động sự nghiệp đã có những công trình nghiên cứu khoa học sau đây: 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Khi đề cập đến các nghiên cứu quốc tế, nhóm tác giả đã tiến hành tìm hiểu nhiều loại công trình khác nhau, gồm bài báo tạp chí, báo cáo của tổ chức nghề nghiệp, các luận án tiến sĩ… Đối với các bài báo, công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế, bên cạnh khá nhiều các nghiên cứu, tác giả tiến hành lựa chọn một số bài báo, công trình nghiên cứu do các tác giả hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, kế toán công, đặc biệt liên quan đến cơ chế tự chủ các đơn vị công.
Cụ thể như sau: Nhóm 1: Những nghiên cứu trên thế giới về tự chủ tài chính và hiệu quả hoạt động đối với các bệnh viện công lập Tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung hay tự chủ tài chính đối với các bệnh viện nói riêng là những vấn đề đang được khá nhiều nghiên cứu luan an 7 trên thế giới tiến hành tìm hiểu, phân tích, thảo luận. Trong những năm gần đây, các quốc gia thường xuyên tiến hành tổ chức các hội thảo hoặc diễn đàn toàn cầu liên quan đến vấn đề tự chủ tài chính trong khu vực công. Khi đề cập đến các nghiên cứu quốc tế, nhóm tác giả đã tiến hành tìm hiểu nhiều loại công trình khác nhau, gồm bài báo tạp chí, báo cáo của tổ chức nghề nghiệp,… Cụ thể, các công trình sau được các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu, mỗi một tác phẩm đều hướng đến các giải pháp về vận dụng hoặc xây dựng cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm các nhóm: + Jay PAN, Gordon G. LIU, Chen GAO (2013) “How does separating government regulatory and operational control of public hospitals matter to healthcare supply?”, China Economic Review 27 (2013) [20] Bài viết này đánh giá hiệu quả của việc cải cách quy định tách biệt kiểm soát hoạt động và giám sát quy định các bệnh viện công ở Trung Quốc.
Dẫn chúng ta kết luận rằng chính phủ chỉ nên tập trung vào việc điều chỉnh thị trường chăm sóc sức khoẻ, trong khi rời bỏ hoạt động của bệnh viện sang thị trường tự do. + Naoki Ikegami (2013)“Autonomy and vesponsibility in Japanese hospitals”.[27] Nghiên cứu này của tác giả đã phân tích quá trình cải sách sâu, rộng hệ thống tài chính bệnh viện công của Nhật Bản trong giai đoạn gần đây. Mục tiêu của cải cách là tăng tính tự chủ và trách nhiệm của bệnh viện công thông qua việc: Tách bạch rõ ràng giữa bên mua - bên cung cấp dịch vụ; Viện phí là nguồn thu chính của bệnh viện trên cơ sở Chính phủ quy định mức phí và điều kiện về thanh toán đối với tất cả các bệnh viện; tuy nhiên mỗi bệnh viện có thể đưa ra các mức thanh toán của riêng mình, đưa ra các quyết sách đầu tư, thuê nhân viên. + WHO (2014): “Issues and Options Hopital Development in Viet Nam”.[47] Thông qua nghiên cứu quá trình triển khai và quản lý về tự chủ bệnh viện ở Việt Nam dưới hình thức hợp tác công - tư (PPP) qua 3 giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là xã hội hoá, giai đoạn thứ hai là giao quyền tự chủ và giai đoạn tiếp theo là hoàn thiện mô hình tự chủ bệnh viện và hình thức (PPP), WHO đã rút ra những bài học kinh nghiệm về những điểm mạnh và những nguy cơ, đặc biệt là cảnh báo về 6 nguy cơ có thể dẫn đến thất bại của mô hình.
Trên cơ sở đó WHO đã đề xuất những nguyên tắc, chiến lược và lựa chọn để thực hiện (PPP) và lộ trình hoàn thiện mô hình qua 3 bước cụ thể. Nghiên cứu này của WHO có ý nghĩa thực tiễn giúp cho cơ quan luan an 8 hoạch định chính sách sửa đổi bổ sung và hoàn thiện các chính sách về tự chủ bệnh viện công lập ở Việt Nam. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu có tính khái quát lý luận chưa cao và tự chủ bệnh viện công lập mới được xem xét từ giác độ mô hình hợp tác công - tư (PPP). + Zhang Xing, Tatsuo Oyama (2016) “Measuring the impact of Japanese local public hospital reform on national medical expenditure via panel data regression” [48] Bài viết nghiên cứu tác động của những thách thức ở bệnh viện khu vực công lên hệ thống chăm sóc sức khỏe và đề xuất giải pháp “đối phó” với những tác động đó để hiệu quả chăm sóc sức khỏe là tốt nhất.
Thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy để phân tích tác động của tỷ lệ giường bệnh tại các bệnh viện khu vực công với số nhân viên bệnh; sự tiếp cận bình đẳng của hệ thống chăm sóc sức khoẻ và cải thiện tình hình tài chính đối với chi phí của quốc gia cho bệnh viện cho 47 quận ở Nhật Bản. + Martin Emmerta, Fatemeh Taheri-Zadehb, Benjamin Kolbb, Uwe Sander (2016) “Public reporting of hospital quality shows inconsistentranking results”[24] Nghiên cứu này xem xét sự nhất quán của các khuyến cáo của bệnh viện về các báo cáo của bệnh viện đức và thảo luận các nguyên nhân cơ bản của sự khác biệt. Để tăng lợi ích của báo cáo công khai, tăng tính minh bạch về khái niệm của "chất lượng y tế" được thể hiện trên mỗi thẻ báo cáo dường như rất quan trọng. Điều này sẽ giúp bệnh nhân và những người tiêu dùng khác sử dụng các báo cáo mà hầu hết thể hiện sự ưu tiên cho các chuyên gia.
+ Willy De Geyndt (2017): “Does autonomy for public hospitals in developing countries increase performance? Evidence-based case studies”.[46] Nghiên cứu đã tổng hợp kinh nghiệm của mười một quốc gia trong việc trao quyền tự chủ cho các bệnh viện công và những trở ngại mà các quốc gia này gặp phải. Từ đó, nghiên cứu đã chỉ ra một số những chính sách tự chủ chưa thực sự phù hợp và hiệu quả, là nguyên nhân của những trở ngại này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị chính sách dựa trên các minh chứng từ thực trạng, trong đó có khuyến nghị về việc trao quyền tự chủ cho các bệnh viện công lập. Nhóm 2: Những nghiên cứu trên thế giới về kế toán trong các đơn vị thuộc khu vực công nói chung và trong lĩnh vực y tế nói riêng: + Earl R.Hay, (2001), Accounting for Governmental and Nonprofit entities [13] luan an 9 Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu khá công phu về các khía cạnh khác nhau trong hoạt động của các đơn vị công phi lợi nhuận.
Các nội dung nghiên cứu trong cuốn sách bao gồm: các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, hướng dẫn cách thức ghi nhận các sự kiện, cách thức lập báo cáo tài chính. Nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích đặc thù hoạt động của một số lĩnh vực sự nghiệp như tổ chức công tác kế toán tại trường học, bệnh viện, các đơn vị lực lượng vũ trang. + Ehsan Rayegan, Mehdi Parveizi, Kamran Nazari & Mostafa Emami (2012): “Government accounting: An Assessment of Theory, Purposes and Standards”[14] Nghiên cứu về kế toán công của bốn tác giả Ehsan Rayegan, Mehdi Parveizi, Kamran Nazari và Mostafa Emami với tiêu đề: “Kế toán công: Đánh giá về lý thuyết, mục tiêu và các tiêu chuẩn” đã đưa ra sự tổng hợp các vấn đề trong thực hiện kế toán của các đơn vị công lập, trong đó bao gồm công tác tổ chức công tác kế toán dựa trên hai nguyên tắc là kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích. Bài viết cũng đề cập đến vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với công tác kế toán; chương trình đổi mới công tác quản lý tài chính công và các vấn đề liên quan đến NSNN.
Đề xuất một số nguyên tắc kế toán mở rộng để thúc đẩy trách nhiệm trong việc giải trình thực hiện công tác kế toán liên quan đến nghĩa vụ kinh tế và chính trị cũng được đưa ra trong nghiên cứu này. + Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) [16] do Ủy ban chuẩn mực kế toán công (IPSAB) ban hành, là các chuẩn mực kế toán áp dụng cho lĩnh vực công, trong đó có các đơn vị cung ứng dịch vụ công không vì mục tiêu lợi nhuận. Hệ thống các chuẩn mực này bao gồm những quy định có tính nguyên tắc, mực thước làm cơ sở để các cấp chính quyền nhà nước và các tổ chức công tổ chức công tác kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của các đơn vị kế toán. + Hệ thống chuẩn mực GAAP (Generally accounting priciples) [17] áp dụng cho các bệnh viện và các tổ chức y tế khác do Hiệp hội các Bệnh viện Hoa Kỳ (American Hospital Association - AHA), Hiệp hội Quản lý Tài chính Y tế Hoa Kỳ (Healthcare Fianancial Management Association - HFMA) và Viện Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified Public Accountants - AICPA).