phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với các trƣờng đại học, cao đẳng công lập. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trƣờng Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trƣờng Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Các vấn đề về chính sách giáo dục và đào tạo, trong đó có chính sách huy động và sử dụng các nguồn tài chính, cơ chế tự chủ quản lý tài chính ở các trường đại học, cao đẳng đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả.
Tác giả Bùi Tiến Hanh (2006) với đề tài “Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam.” đã hệ thống hóa, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục, xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục. Phân tích rõ thực trạng xã hội hóa giáo dục và những tác động tích cực, hạn chế của cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua. Đồng thời tổng kết một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính có tính khả thi nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện tốt hơn công bằng và hiệu quả trong phát triển giáo dục, cụ thể: Thứ nhất: bỏ quy định giới hạn trần về tổng thu nhập hàng năm trả cho ngƣời lao động trong các cơ sở giáo dục công lập thực hiện cơ chế tự chủ; Thứ hai: cụ thể hóa quy định trách nhiệm các cơ sở giáo dục công lập tự đảm bảo nguồn để thực hiện khoản tiền lƣơng cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nƣớc khi nhà nƣớc điều chỉnh các quy định về tiền lƣơng, nâng mức lƣơng tối thiểu; Thứ ba: cụ thể hóa các khoản chi quản lý và hoạt động nghiệp vụ mà thủ trƣởng cơ sở giáo dục công lập do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí đƣợc quyết định mức chi để không gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục; Thứ tư: xây dựng và thực hiện thí điểm cơ chế cổ phần hóa, chuyển các cơ sở giáo dục công lập sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp và trƣớc hết nên áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề có các ngành nghề đào tạo đang có nhiều lợi thế thu hút ngƣời học.
4 z Tác giả Phạm Văn Ngọc (2007) trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội trong tiến trình đổi mới quản lý tài chính công ở nước ta hiện nay.” Đã phân tích, đánh giá vai trò của cơ chế tự chủ tài chính đối với những thành tựu mà Đại học Quốc gia Hà Nội đã đạt được, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hơn việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả Nguyễn Anh Thái (2008) với đề tài luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học của Việt Nam.” đã đề cập đến những ảnh hưởng của cơ chế tài chính đối với kết quả hoạt động của các trường đại học của Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học của Việt Nam, như: Thứ nhất: tạo dựng khung pháp lý về quản lý giáo dục đại học một cách đồng bộ; Thứ hai: Cải tiến việc phân bổ và cấp phát NSNN; Thứ ba: Hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn thu đối với các trƣờng đại học công lập Thứ tƣ: Xã hội hóa giáo dục đại học, khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài chính cho phát triển giáo dục đại học công lập; Thứ năm: Tăng cƣờng phân cấp quản lý tài chính theo hƣớng tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; Thứ sáu: Xây dựng chính sách công về tài chính giáo dục đại học công lập; Tác giả Nguyễn Tấn Lƣợng (2011) với đề tài luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trƣờng đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.” đã tập trung nghiên cứu về mặt lý luận cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các trƣờng đại học công lập nói riêng. Đồng thời nghiên cứu thực trạng các nguồn lực tài chính và việc sử dụng các nguồn lực tài chính tại các trƣờng đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính cho các đơn vị, cụ thể: 5 z Thứ nhất: Hoàn thiện môi trƣờng pháp lý Thứ hai: Tăng cƣờng đầu tƣ của nhà nƣớc xây dựng cơ sở vật chất cho các trƣờng đại học công lập. Thứ ba: Hoàn thiện phƣơng thức giao ngân sách cho giáo dục đại học.
Thứ tư: Tăng quyền tự chủ cho các trƣờng đại học công lập trƣớc hết là các trƣờng trọng điểm trong việc quyết định về tuyển sinh, chƣơng trình đào tạo, cấp văn bằng các hình thức đào tạo. Thứ năm: Nhà nƣớc cần trao cho các trƣờng đại học trọng điểm, các trƣờng đại học công lập tự chủ hoàn toàn về kinh phí hoạt động thƣờng xuyên đƣợc quyền tự chủ về mức thu học phí. Tác giả Vũ Thị Thanh Thủy (2012) với đề tài luận án tiến sỹ “Quản lý tài chính các trƣờng Đại học công lập ở Việt Nam.” đã hệ thống hóa về cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại các trƣờng đại học công lập, các nhân tố quản lý tài chính, đồng thời cũng chỉ ra tác động của quản lý tài chính đến chất lƣợng đầu ra của học sinh, sinh viên, các thang đo quản lý tài chính và điều kiện để các trƣờng tự chủ tài chính. Tác giả Trần Đức Cân (2012) trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam” đã phân tích cơ chế tự chủ tài chính theo góc độ từ các trƣờng đại học công lập, đồng thời nêu ra những thuận lợi, khó khăn và đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế tới tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trƣớc xã hội, khả năng tự chủ tài chính của các trƣờng.
Tác giả Nguyễn Thu Hương (2011) với nghiên cứu “Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường Đại học công lập.” đã chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong khi cơ chế thu học phí vẫn chưa đồng bộ, các trường đại học vẫn chưa được tự chủ mức thu học phí đối với các chương trình đào tạo phổ thông (vẫn phải thực hiện mức thu trần đối với học phí)…; Ở các góc độ khác nhau, các công trình khoa học nói trên đều có đề cập đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công 6 z lập. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây. Với những đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức và hoạt động, nên việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây giai đoạn 2011 – 2013 từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường là hết sức cần thiết. Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với các trƣờng đại học, cao đẳng cộng lập.
Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập: 1. Khái niệm: Theo quy định tại Quốc hội (2010,3) thì "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc , tổ chức chính trị , tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật , có tƣ cách pháp nhân , cung cấ p dich ̣ vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc." Các đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ công cộng và các dịch vụ khác nhằm duy trì sự hoạt động bình thƣờng của đời sống kinh tế xã hội; Các đơn vị đƣợc nhà nƣớc thành lập chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trƣờng, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm…. Để xác định đƣợc đơn vị sự nghiệp công lập nào là do Nhà nƣớc thành lập thì cần dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng. - Đƣợc Nhà nƣớc cung cấp kinh phí, tài sản và cơ sở vật chất khác để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nƣớc quy định.
- Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nƣớc quy định. - Có con dấu và đƣợc mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nƣớc để ký gửi các khoản thu, chi tài chính. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập: - Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo nguyên tắc phục vụ là chính. Nhà nƣớc tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nƣớc phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chƣa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.