CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH 1.1 Tổng quan về dự toán ngân sách 1.1 Khái niệm dự toán ngân sách Dự báo: Dự báo là khoa học và nghệ thuật nhằm tiên đoán trước các hiện tượng và sự việc sẽ xảy ra trong tương lai được căn cứ vào các tài liệu như sau: - Các số liệu của các thời kỳ quá khứ; - Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đối với kết quả dự báo; - Các kinh nghiệm thực tế đã được đúc kết và từ nghệ thuật phán đoán của các chuyên gia, được kết hợp với các kết quả dự báo, để có được các quyết định với độ chính xác và tin cậy cao. Dự báo là một công tác quan trọng trong nhiều ngành. Dự báo đặc biệt quan trọng với việc quản lý vĩ mô và kinh doanh. Dự báo là giai đoạn đầu tiên của quá trình lập kế hoạch.
Kế hoạch: Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, chia thành các giai đoạn thực hiện, có phân bổ nguồn lực, ấn định mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo nội dung và tính chất, kế hoạch được chia thành kế hoạch chiến lược và kế hoạch chiến thuật (kế hoạch tác nghiệp). - Kế hoạch chiến lược: Là kế hoạch ở quy mô toàn tổ chức, xác định những mục tiêu cơ bản của tổ chức. - Kế hoạch chiến thuật (Kế hoạch tác nghiệp): Là kế hoạch nêu rõ mục tiêu, nguồn lực chi tiết, công cụ để chuyển các định hướng, mục tiêu của kế hoạch chiến lược thành các chương trình cụ thể cho từng bộ phận của tổ chức.
Dự toán: Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ, phản ánh mục tiêu và toàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian 123doc 6 nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Dự toán chi tiết hơn kế hoạch. Dự toán ngân sách: Dự toán ngân sách là việc tính toán một cách chi tiết về việc huy động và sử dụng các nguồn lực của một tổ chức trong một kỳ hoạt động, hay nói cách khác, dự toán ngân sách là một kế hoạch hành động được lượng hóa và được chuẩn bị cho một thời gian cụ thể. Lập dự toán ngân sách là cách thức để lập kế hoạch về kết quả tài chính thu được trong kỳ hoạt động.
Dự toán ngân sách bao gồm các thành phần chủ yếu là sự tính toán, dự kiến, sự phối hợp chi tiết và toàn diện các nguồn lực, thời gian thực hiện, hệ thống các chỉ tiêu về lượng và giá trị. (Trần Đình Phụng và cộng sự, 2009. Kế toán quản trị. Nhà xuất bản Lao động) 1.2 Phân loại dự toán ngân sách Hiện nay có nhiều cách phân loại dự toán như phân loại dự toán theo thời gian, theo phương pháp lập, theo mức độ phân tích 1.1 Phân loại theo thời gian Dự toán ngân sách ngắn hạn: Dự toán ngân sách ngắn hạn còn được gọi là dự toán ngân sách hoạt động.
Đây là dự toán ngân sách được lập cho kỳ kế hoạch một năm và được chia ra từng thời kỳ ngắn hơn theo từng quý, từng tháng. Đặc điểm cơ bản của dự toán này là được lập hàng năm trước khi niên độ kế toán kết thúc để định hướng nguồn tài chính cho hoạt động của tổ chức trong năm kế hoạch. Dự toán ngân sách dài hạn: Dự toán ngân sách dài hạn được gọi là dự toán ngân sách vốn. Đây là dự toán được lập liên quan tới nguồn tài chính cho đầu tư, mua sắm tài sản dài hạn được sử dụng nhiều năm.
Dự toán ngân sách dài hạn sắp xếp các nguồn lực, chủ yếu là nguồn tài chính để đạt được kết quả dự kiến trong tương lai nhiều năm. Đặc điểm cơ bản của dự toán này là mức độ rủi ro tương đối cáo, lợi nhuận dự kiến lớn, thời gian thu hồi vốn tương đối dài.2 Phân loại theo phương pháp lập Dự toán ngân sách linh hoạt: Là dự toán có rất nhiều mẫu ứng xử chi phí thiết kế cho từng sự thay đổi số lượng bán ra. Là dự toán ngân sách được lập tương ứng với nhiều mức độ hoạt động khác nhau. Dự toán linh hoạt được lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách dự kiến tương ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau.
Thông thường, dự toán linh hoạt được lập ở ba mức độ: mức độ hoạt động bình thường, mức độ hoạt động khả quan nhất và mức độ hoạt động bất lợi nhất. Dự toán ngân sách linh hoạt giúp nhà quản lý có nhiều thông tin để ứng phó với các tình huống khác nhau, tuy nhiên cũng đòi hỏi phải tính toán, cân đối nhiều và phức tạp. Dự toán ngân sách cố định: Dự toán cố định là dự toán được thiết kế không phụ thuộc vào số lượng đầu ra hay doanh số đạt được. Mục đích của dự toán cố định trong giai đoạn lập kế hoạch chính là thiết lập một mục tiêu tương đối rộng cho công ty.
Dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định. Dự toán ngân sách cố định chỉ dựa vào một mức độ hoạt động bằng một hệ thống chỉ tiêu số lượng, giá trị nhất định trong một khoảng thời gian mà không xét tới khả năng biến động của mức độ này trong kỳ dự toán. Việc lập dự toán ngân sách cố định tương đối đơn giản, tính toán, cân đối ít. Tuy nhiên, dự toán này không cung cấp đủ thông tin để ứng phó với các tình huống khác nhau, nhất là khi tổ chức cần sự điều chỉnh về quy mô, mức độ hoạt động để thích nghi với tình hình thực tế.3 Phân loại theo mức độ phân tích Dự toán từ gốc: Là khi lập dự toán tiến hành xem xét khả năng thu nhập, những khoản chi phí phát sinh và khả năng thực hiện lợi nhuận để lập các báo cáo dự toán.
Các báo cáo dự toán mới không phụ thuộc số liệu của báo cáo dự toán cũ. Dự toán từ gốc không chịu hạn chế của các mức chi tiêu đã qua, không có khuôn mẫu do đó 123doc 8 đòi hỏi các nhà quản lý phải chủ động, sáng tạo và căn cứ vào tình hình thực tế để lập dự toán. Phương pháp này có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, nó không lệ thuộc vào số liệu của kỳ quá khứ, tránh được tình trạng bị lệ thuộc và che lấp các khuyết điểm, thiếu sót ở kỳ quá khứ.
Thứ hai, phương pháp này phát huy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo của bộ phận lập dự toán cũng như giúp bộ phận lập dự toán không bị ảnh hưởng, chi phối bởi quan điểm của người đi trước. Tuy vậy, phương pháp này cũng có nhược điểm là tất cả mọi hoạt động phân tích, nghiên cứu đều bắt đầu từ con số không, khối lượng công việc nhiều, thời gian lập dự toán dài, kinh phí cho việc lập dự toán cao và cũng không thể chắc chắn được rằng số liệu dự toán từ gốc là chính xác hoàn toàn. Dự toán cuốn chiếu: Dự toán cuốn chiếu hay còn được gọi là dự toán nối mạch là phương pháp mà các bộ phận lập dự toán dựa vào các báo cáo dự toán cũ và điều chỉnh dựa vào các thay đổi trong thực tế để lập báo cáo dự toán mới. Ưu điểm của phương pháp này các báo cáo được soạn thảo, theo dõi và cập nhật liên tục.
Khuyết điểm của phương pháp này là quá trình lập dự toán ngân sách lệ thuộc nhiều vào các báo cáo dự toán cũ, không phát huy tính chủ động, sáng tạo của bộ phận lập dự toán.3 Chức năng của dự toán ngân sách Dự toán ngân sách đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản lý thực hiện chức năng quản trị của họ. Chức năng hoạch định: Dự toán ngân sách đóng vai trò hoạch định, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân trong tổ chức. Từ đó, chỉ ra đường đi cụ thể đến các mục tiêu chung của tổ chức cũng như dễ dàng điều chỉnh khi hoạt động của tổ chức bị chệch hướng. Chức năng tổ chức – điều hành: Chức năng điều hành của dự toán ngân sách thể hiện ở chỗ huy động và phân phối các nguồn lực thực hiện các mục tiêu của nhà quản lý.
Tổ chức điều hành thông qua những công việc cụ thể, quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên. Dự toán là cơ sở để triển khai hoạt động. 123doc 9 Chức năng kiểm soát: Dự toán ngân sách được xem là thước đo, là cơ sở để so sánh, đối chiếu số liệu thực tế đạt được của tổ chức thông qua các báo cáo quản trị. Dự toán ngân sách là cơ sở để giám sát hoạt động của tổ chức trong từng thời kỳ nhất định.
Chức năng ra quyết định: Ra quyết định là không phải là một chức năng độc lập mà phải có một nền tảng thông tin vững chắc. Dự toán ngân sách giúp nhà quản trị đo lường, đánh giá trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân trong tổ chức thông qua các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể đã xác định trong dự toán. Thông qua việc so sánh kết quả hoạt động với dự toán ngân sách, nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định một cách thích hợp. Như vậy, có thể nói dự toán ngân sách có vai trò quan trọng và gắn liền với công việc của các nhà quản lý, giúp họ điều hành tổ chức đạt hiệu quả cao.4 Mô hình lập dự toán ngân sách Dự toán ngân sách có thể được lập theo ba mô hình sau: 1.1 Mô hình 1 - Mô hình ấn định thông tin từ trên xuống: Các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản lý cấp cao nhất của tổ chức và truyền đạt cho các cấp quản lý trung gian, trên cơ sở đó cấp quản lý trung gian truyền đạt cho các đơn vị cấp cơ sở.
Nhận xét mô hình 1: Lập dự toán theo mô hình này mang tính chất áp đặt từ quản lý cấp cao xuống, dễ gặp tình trạng dự toán do quản lý cấp cao tự ấn định sẽ không phù hợp với mức độ hoạt động và năng lực thực tế của từng bộ phận. Khi lập dự toán theo mô hình này đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm nhìn toàn diện đồng thời nắm được chi tiết hoạt động từng bộ phận.