Chương 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại học công lập ở Việt Nam Chương2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Đánh giá việc thực hiện cơ chế quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội 4 z Chương 4. Một số khuyến nghị về hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Cải cách cơ chế quản lý tài chính cho GDĐHCL luôn là để tài nóng bỏng, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Đã có nhiều nghiên cứu phân tích về tính tự chủ GDĐH, chi phí đầu tƣ cho giáo dục, đánh giá hiệu quả đầu tƣ cho giáo dục, chính sách học phí, và phân bổ ngân sách cho giáo dục v.v…Trong các nghiên cứu của Ashby và Anderson (1966), Tight M (1992), Henkel (2005), Moses (2007) và Raza (2010) đã phân loại và đánh giá mức độ cũng nhƣ tầm quan trọng của các loại hình tự chủ nhà trƣờng, với nỗ lực xác định tiêu chuẩn quốc tế về quản trị đại học. Báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank 2008, khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mô hình Nhà nƣớc kiểm soát hoàn toàn (state control) nhƣ ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi-autonomous) nhƣ ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi- independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc. World Bank (2012) đã đƣa ra một bảng so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí cần thiết để đảm bảo chất lƣợng đào tạo ở Việt Nam. Lee Little Solider (2008) trong nghiên cứu của mình đã đƣa ra những kiến nghị cho hành động thực tiễn gồm có: đa dạng hóa nguồn thu, xây dựng văn hóa trƣờng học nhạy bén với thị trƣờng, giao quyền tự chủ lớn hơn cho các trƣờng đại học, sử dụng công nghệ nhiều hơn và tốt hơn nữa, xây dựng chƣơng trình một cách có hệ thống, và cải thiện thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu trong giáo dục đại học tại Việt Nam.
Một số kiến nghị có tính chất xây dựng cao nhƣ giao quyền tự chủ lớn hơn cho các trƣờng đại học bằng cách xây dựng một hệ thống quản lý ngân sách tạo điều kiện cho các trƣờng phân bổ nguồn lực một 6 z cách hiệu quả; tiêu chuẩn hóa hệ thống đào tạo theo tín chỉ để có thể chuyển đổi tín chỉ giữa các trƣờng đại học. Trên cơ sở đổi mới tƣ duy và cơ chế quản lý GDĐH, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc và việc đảm bảo quyền tự chủ, tăng cƣờng trách nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở GDĐH, đổi mới cơ bản và toàn diện cơ chế quản lý tài chính GDĐHCL đƣợc Chính phủ xác định là khâu đột phá để phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2020. Lộ trình thực hiện cải cách dự báo sẽ có nhiều thách thức, đặc biệt cho tới nay các cải cách về cơ chế tài chính vẫn còn rất hạn chế và mâu thuẫn trong việc triển khai. Nhiều chính sách và cơ chế tài chính lạc hậu, phân bổ tài chính mang tính bình quân, dàn trải.
Đã có rất nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc, phân tích thực trạng tài chính trong GDĐHCL tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị cải cách. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu sâu một cách toàn diện về đề án quan trọng này. Nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hoàn chỉnh trong nghiên cứu, một phần đƣợc cho là do còn thiếu những nỗ lực phân tích sâu và toàn diện về 3 vấn đề cốt lõi trong quản lý tài chính cho GDĐH gồm: cơ chế tự chủ, chính sách phân bổ tài chính cho GDĐH và chính sách học phí. Thứ nhất, đổi mới cơ chế tự chủ tài chính cho các trƣờng đại học có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời với lộ trình cải cách GDĐH nói chung và GDĐHCL nói riêng.
Với quy mô NSNN còn hạn hẹp trong khi đổi mới nền giáo dục nƣớc ta đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính dồi dào, việc huy động mọi nguồn lực tài chính cho phát triển GDĐH là hết sức cần thiết. Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó trong điều kiện kinh tế hiện nay của nƣớc ta, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, theo Nguyễn Trọng Hoài (2012) có đề cập trong nghiên cứu của mình thì nghị định 43 chƣa giao quyền tự chủ thực sự về huy động nguồn lực tài chính từ học phí do ngƣời theo học đóng cho các trƣờng đại học. Mức thu học phí hệ công lập vẫn theo lộ trình quy định của Bộ.
Thực chất các trƣờng ĐHCL chủ yếu chỉ 7 z đƣợc tự chủ về chi, cơ bản vẫn chƣa tự chủ về thu; việc chi trả lƣơng cho giảng viên chủ yếu dựa vào thang bảng lƣơng theo quy định của Nhà nƣớc; cơ chế tuyển dụng cũng nhƣ bồi dƣỡng chuyên môn vẫn còn nhiều ràng buộc cứng nhắc. Đây có thể đƣợc coi là điểm mẫu thuẫn với quan điểm vận động, khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo (CSGDĐT) có nguồn thu cao chuyển sang hoạt động theo cơ chế nhƣ một doanh nghiệp (DN), trong khi cơ chế của họ hiện nay lại ngƣợc lại hoàn toàn so với cơ chế của một DN. Với bối cảnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay, khi mà các doanh nghiệp đã và đang có cơ chế trả lƣơng vô cùng linh hoạt, các trƣờng ĐHCL sẽ gặp khó khăn rất lớn trong việc chủ động tìm kiếm thu hút nhân tài, huy động nguồn lực tài chính cho đầu tƣ phát triển, xây dựng cơ sở vật chất nâng cao chất lƣợng đào tạo. Cùng quan điểm, Đỗ Thị Thanh Vân (2012) đã đƣa ra cơ sở pháp lý của việc giao quyền tự chủ tài chính cho các trƣờng ĐHCL, đồng thời đề cập đến những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ vƣớng mắc trong việc thực hiện tự chủ về tài chính.
Cụ thể đó là: mức thu học phí và chỉ tiêu tuyển sinh còn giới hạn bởi các chế độ chính sách của Nhà nƣớc; cơ chế định mức chi tiêu còn thiếu tính thực tiễn, nhiều khoản chi phát sinh thực tế nhƣng không có cơ chế thu đảm bảo, chƣa có cơ chế chính sách đủ mạnh để các trƣờng chi trả tiền lƣơng, thƣởng với mức đặc biệt để thu hút đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý có chất lƣợng…. Đinh Văn Nhã (2012) lại một lần nữa đồng quan điểm với các công trình nghiên cứu trên về việc các CSGDĐT đƣợc giao tự chủ chi nhƣng lại không đƣợc giao tự chủ thu. Ông nhấn mạnh cần phải từng bƣớc nới lỏng, để các cơ sở này có nhiều quyền hơn trong vấn đề tự chủ thu giống nhƣ các DN, lúc đó ta mới gọi là áp dụng cơ chế cho các cơ sở đào tạo theo cơ chế DN. Để thực hiện đƣợc cần phải cho các cơ sở giáo dục quyền tự quyết các chƣơng trình đào tạo gắn với chất lƣợng.
Thay vì đóng học phí ở mức độ bình thƣờng đủ để đáp ứng yêu cầu của ngƣời dân, các cơ sở giáo dục có thể tự đặt ra mức thu từ các dịch vụ đó kể cả vƣợt khung so với quy định nếu nhƣ họ cam kết tạo ra đƣợc sản phẩm giáo dục có chất lƣợng vƣợt trội, khi đó nhà nƣớc không cần đầu tƣ nhiều mà ngƣời học vẫn có thể chấp nhận. 8 z Đây mới là cơ chế khuyến khích các CSGDĐT hoạt động theo cơ chế DN theo đúng nghĩa của nó. Để huy động đƣợc nguồn lực tài chính cho GDĐH cần phải có cơ chế, chính sách quản lý tài chính thông thoáng, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hơn, Nguyễn Ngọc Vũ (2012) bƣớc đầu đánh giá kết quả đạt đƣợc trong việc thực hiện tự chủ tài chính tại một số đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các trƣờng đƣợc giao tự chủ đã tích cực và chủ động hơn trong việc đổi mới và mở rộng các loại hình đào tạo, đẩy mạnh thí điểm các chƣơng trình chất lƣợng cao học phí tƣơng ứng theo nhu cầu xã hội; tự xây dựng đƣợc cho mình một quy chế chi tiêu linh hoạt và phù hợp với tình hình hoạt động.
Theo đó, các trƣờng lập kế hoạch điều tiết thu chi, cũng nhƣ sắp xếp, bố trí và tuyển dụng lao động theo nhu cầu hợp lý giúp thu nhập của giảng viên và cán bộ tăng đáng kể từ 15-20%. Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, Nguyễn Ngọc Vũ (2012) cũng chỉ ra những khó khăn hạn chế vẫn còn tồn tại. Bao gồm quy định về thu học phí của trƣờng tự chủ tài chính không khác gì các trƣờng khác; chƣa có quy định về việc huy động vốn và vay vốn của các tổ chức tín dụng cho các hoạt động dịch vụ công để khuyến khích các đơn vị chủ động giải quyết việc thiếu phòng học, cơ sở vật chất; học phí và lệ phí thu đƣợc phải gửi kho bạc nhà nƣớc, không đƣợc hƣởng lãi suất v.v… Từ thực trạng đó, tác giả đề xuất cần tự chủ hơn nữa về hoạt động liên doanh, liên kết và hợp tác quốc tế; chi trả thu nhập cho ngƣời lao động; tự chủ sử dụng các nguồn lực tài chính, xác định mức thu học phí, lệ phí, thu phí dịch vụ và sử dụng tài sản. Những tồn tại đó đã hạn chế các trƣờng ĐHCL trong vấn đề tự chủ, tự cân đối nguồn lực tài chính theo năng lực đào tạo của mình.
Vì vậy, Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012) cũng đã đề xuất định hƣớng trong việc Nhà nƣớc chủ động từng bƣớc giao quyền tự chủ tài chính về các định mức học phí cho các trƣờng ĐHCL. Tự chủ đại học là vấn đề phức tạp, nó vừa liên quan đến quản lý nhà nƣớc về giáo dục vừa liên quan đến quản lý vi mô cấp cơ sở. Tìm kiếm mô hình thực tiễn quản lý CSGDĐH phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng đang trở nên cấp thiết nhƣ là yêu cầu đổi mới tƣ duy và hệ thống quản lý.