Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ 1. DẠY NGHỀ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ 1. Dạy nghề và các hệ thống dạy nghề.
Khái niệm dạy nghề. - Khái niệm “Đào tạo nghề” hoặc ‘Dạy nghề”: Theo Karl Marx: Công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: + Giáo dục trí tuệ; + Giáo dục thể lực như trong các trường thể dục, thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; + Dạy kĩ thuật nhằm giúp học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất [41].ăng nghen (2001), Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198. Nxb Sự thật, Hà Nội Một số khái niệm ở Việt Nam: Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (2002), khái niệm “đào tạo nghề” là “hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học thành được một nghề trong xã hội”. Luật Dạy nghề Việt Nam xác định: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” 123doc 10 [22].Quốc hội (2006), Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11, Hà Nội.
Tóm lại: “Dạy nghề (hay đào tạo nghề) là một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phương pháp nhất định nhằm trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết để họ có năng lực hành nghề tương xứng với trình độ được đào tạo”. Như vậy, khái niệm “dạy nghề” có tính tổng quát này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “vốn nhân lực”, coi công nhân như cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động – một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay.
Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác Tiêu chí Giáo dục Giáo dục Giáo dục Dạy nghề so sánh mầm non phổ thông đại học Học sinh tốt Trẻ em, thường Học sinh từ tiểu Học sinh tốt Đối nghiệp trung dưới tuổi học học đến trung nghiệp trung tượng học hoặc người tiểu học học phổ thông học lao động Đào tạo nhân Giúp trẻ em Giúp học sinh Đào tạo người lực kỹ thuật phát triển về thể phát triển toàn học có khả trực tiếp trong chất, tình cảm, diện về đạo đức, năng làm việc sản xuất, dịch trí tuệ, thẩm trí tuệ, thể chất, độc lập, sáng Mục vụ có năng lực mỹ, hình thành thẩm mỹ và các tạo và giải tiêu thực hành nghề những yếu tố kỹ năng cơ bản, quyết những tương xứng với đầu tiên của hình thành nhân vấn đề thuộc trình độ đào tạo nhân cách cách con người chuyên ngành được đào tạo 123doc 11 Tập trung đào Bảo đảm phù Bảo đảm tính Coi trọng việc tạo năng lực hợp với sự phát phổ thông, cơ bồi dưỡng ý thực hành nghề triển tâm sinh bản, toàn diện, thức tự giác nghiệp, coi lý của trẻ em, hướng nghiệp và trong học tập, Nội trọng giáo dục hài hòa giữa có hệ thống; gắn năng lực tự dung, đạo đức, rèn nuôi dưỡng, với thực tiễn học, tự nghiên phương luyện sức khoẻ, chăm sóc và cuộc sống, phù cứu, phát triển pháp rèn luyện kỹ giáo dục hợp với tâm sinh tư duy sáng năng theo yêu lý lứa tuổi của tạo, rèn luyện cầu đào tạo của Học sinh kỹ năng thực từng nghề hành Cơ sở Các trường, Các trường Các trường Các trường đào tạo trung tâm, doanh nghiệp 1. Hệ thống dạy nghề. Hệ thống giáo dục quốc dân được thiết lập nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu đào tạo con người của đất nước, tập hợp các ngành học, bậc học, cấp học, từ nhà trẻ đến sau đại học một cách liên tục thống nhất. Hệ thống dạy nghề là cách thức tổ chức mạng lưới các tổ chức cung cấp dịch vụ dạy nghề nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của quốc gia.
Hệ thống dạy nghề Việt Nam nằm trong hệ thống Giáo dục quốc dân có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia nên nó đã, đang và sẽ cung cấp các dịch vụ dạy nghề khác nhau cho những khách hàng khác nhau và chịu trách nhiệm báo cáo cho những cơ quan khác nhau. Sơ đồ cấu trúc của Hệ thống Giáo dục quốc dân Phân tích hệ thống dạy nghề Việt Nam cho thấy: + Hệ thống dạy nghề công lập, do nhà nước đầu tư, đảm bảo hoạt động khi Nhà nước nhận thấy những lợi ích xã hội đạt được đủ lớn để tác động đến số đông dân chúng. Khi đó, những ưu tiên xã hội được thiết lập và thường định hướng cho hoạt động tài chính dạy nghề; cải thiện năng suất lao động và thúc đẩy việc làm thường được quan tâm và ưu tiên. Hệ thống này được duy trì khi những người lao động được đào tạo có thể thu hút thêm việc làm hoặc tự tạo việc làm, và kết quả là nâng cao được phúc lợi cho xã hội.
+ Hệ thống dạy nghề ngoài công lập, do các tổ chức, cá nhân đảm bảo hoạt động khi họ nhận thấy đào tạo nghề giúp nâng cao kỹ năng, thu nhập cho bản thân người lao động hay người sử dụng lao động thông qua việc kỹ năng tốt hơn tạo ra năng suất lao động và lợi nhuận cao hơn. Mặc dù không được hưởng ngân sách nhà nước nhưng quá trình dạy nghề trực tiếp tạo ra những lợi ích cá nhân cho phía người học và doanh nghiệp, và đặc biệt họ là người trực tiếp hưởng lợi (Trường 123doc 13 trong doanh nghiệp) thì họ sẽ đầu tư tài chính cho dạy nghề. Các yếu tố tác động tới phát triển dạy nghề. Phát triển dạy nghề là một tất yếu để đạt được mục tiêu đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng, có tay nghề cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Quá trình phát triển dạy nghề có mối quan hệ hữu cơ, qua lại với nhiều yếu tố của phát triển kinh tế - xã hội như: xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập; tác động của kinh tế thị trường; yếu tố khoa học - công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất hiện các ngành, nghề mới, các khu vực kinh tế động lực; cơ chế, chính sách quản lý tài chính đối với dạy nghề… 1. Các yếu tố khách quan Cơ chế, chính sách quản lý công Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động Khoa học công nghệ DẠY NGHỀ Toàn cầu hóa Kinh tế và hội nhập thị trường Hình 1. Các yếu tố khách quan tác động tới phát triển dạy nghề 1. Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập Đối với lĩnh vực dạy nghề; toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động mạnh từ hai hướng cơ bản, đó là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia trong quá trình hội nhập và yêu cầu đảm bảo có được đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu của công 123doc 14 nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận nguồn đầu tư từ nước ngoài đưa vào; cũng như sự cạnh tranh khốc liệt về lực lượng lao động trong khối ASEAN.
Ở hướng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm, dịch vụ, cấp doanh nghiệp và quốc gia, nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, là con đường cơ bản, giải pháp đột phá trên cơ sở phát triển mạnh dạy nghề, nâng cao chất lượng lao động, nhanh chóng đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao theo chuẩn mực quốc gia và quốc tế. Hướng thứ hai rất quan trọng các quốc gia trong quá trình hội nhập, trong xu thế toàn cầu hóa có nhiều cơ hội trong việc tạo việc làm mới ở các khu vực như đầu tư trực tiếp nước ngoài; doanh nghiệp sản xuất và gia công hàng xuất khẩu; xuất khẩu lao động và chuyên gia. đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ lao động có nghề tương ứng. Tác động của kinh tế thị trường và thị trường lao động.
Kinh tế thị trường là một trong những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến phát triển dạy nghề trên nhiều mặt, nhất là các mặt sau: - Phát triển kinh tế thị trường phải trên cơ sở hình thành về cơ bản thể chế thị trường, tạo lập khung khổ pháp lý và tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường, trong đó có Thị trường lao động. - Trong kinh tế thị trường, tiền công, tiền lương là giá cả của lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động. Xu hướng tiền công, tiền lương là xoay quanh giá trị lao động và dần dần trả đúng giá trị lao động. Mà chúng ta biết rằng, thước đo giá trị lao động là hao phí lao động hay chi phí lao động trong giá trị gia tăng.
Lao động có trình độ càng cao thì càng có khả năng nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí lao động trong giá trị sản phẩm, do đó càng được trả lương, trả công cao hơn, nhất là khi mà sản phẩm có khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường. Khoa học - công nghệ. Sự phát triển của khoa học công nghệ trước hết làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội từ ngành nghề cho tới phương pháp lao động. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý không chỉ điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý lao động, phương pháp 123doc 15 điều hành mà cả quản lý cho phù hợp với công nghệ mới.