CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu liên quan 1. Nghiên cứu về quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Đã có khá nhiều công trình nước ngoài nghiên cứu về lĩnh vực này, bao gồm cả cá nhân lẫn tổ chức. Một số quốc gia như Mỹ, Anh và Úc có mô hình giáo dục đào tạo công khá độc lập giữa các bang hay các vùng.
Mỗi khu vực có những chính sách riêng cho giáo dục công. Vì vậy, họ đều lập các khung khổ và chính sách giáo dục phù hợp với họ. Chẳng hạn, năm 2007, Hội đồng chính quyền vùng Hampshire Anh đưa ra khung khổ nguyên tắc quản lý tài chính cho các trường học công lập ở vùng. Còn ở Úc, Bộ Giáo dục, Việc làm và Quan hệ công sở, thông qua những cơ chế quản lý tài chính đã được luật hoá, đều phải đưa ra báo cáo giải trình rất chi tiết về kế hoạch phân cấp ngân sách nhà nước dành cho các đơn vị thụ hưởng của bộ này, trong đó là các trường học công lập các cấp.
Như vậy, với tổ chức thì các công trình đề cập đến tài chính công cho giáo dục mang tính tác nghiệp là chủ yếu. Trong khi đó, nhiều tác giả lồng ghép lý thuyết về tài chính công vào quản lý tài chính cho giáo dục. So với cách tiếp cận trước về tài chính công, cách tiếp cận này chỉ là lồng ghép lý thuyết vào thực tế, nên mang tính tác nghiệp nhiều hơn. Công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và tương đối liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài luận án cần kể đến tài liệu “Quản lý trường đại học trong GDĐH” của Micheala Martin, Bikas C.Sanyal và Susan D’Antoni.
Đây là tài liệu dành cho các nhà quy hoạch giáo dục, cán bộ quản lý trường đại học và các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục. Với những nội dung chi tiết về quản lý trường đại học trong giáo dục, tài liệu đã trình bày khái quát về công tác quản lý trong giáo dục, trên cơ sở đó làm nổi bật ba nội dung chính: quản lý tài chính, quản lý nhân lực và quản lý nguồn lực CSVC. Tuy nhiên, một số nội dung đề cập chưa hoàn toàn phù hợp khi áp dụng cụ thể đối với cơ chế quản lý tài chính cho chương trình đào tạo chất lượng cao [4] Từ những năm 1991, khi nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu chuyển từ nền kinh 8 tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, đất nước này đã nhận ra được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Ngày 15/4/1991, Shengliang Deng, Trường Đại học Saskatchewan, Saskatoon, Trung Quốc và Yinglou Wang, Trường Đại học Giao thông Tây An, Trung quốc, tác giả của bài Quản lý giáo dục ở Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và tương lai đã thuyết phục người đọc rằng: Quản lý giáo dục ở Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu và là cơ sở cho quá trình phát triển, cải tổ kinh tế.
Tuy nhiên, quản lý giáo dục ở Trung Quốc vẫn đối mặt với một số vấn đề khá là nghiêm trọng như: những giáo viên có trình độ còn hạn chế, một số chương trình giảng dạy không tương xứng, điều kiện làm việc của giáo viên còn khó khăn và trệch hướng đi so với nhu cầu của xã hội. Đây là những vấn đề đe dọa tới sự cải tổ kinh tế Trung Quốc. Bởi vì, việc đào tạo ra những nguồn nhân lực tốt mới là nền tảng cho sự thành công của các doanh nghiệp và tạo điều kiện cho kinh tế, xã hội phát triển. Từ cơ sở đó, bài báo đã tổng quan lại hệ thống quản lý giáo dục của Trung Quốc, phân tích và thảo luận về những vấn đề hiện tại để đưa ra những giải pháp phù hợp cho quản lý giáo dục Trung Quốc.
Hai tác giả đã nhấn mạnh quản lý giáo dục là quản lý trên nhiều mặt (điểm khác với phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu sinh): giáo viên, học sinh, sinh viên và người lãnh đạo các cấp của giáo dục, tài chính dành cho giáo dục [53]. Nghiên cứu khác, nhóm nghiên cứu Estelle James, Elizabeth M. King và Ace Suryadi - Bộ văn hóa và giáo dục, Jakarta, Inđônêxia lại tiến hành nghiên cứu cụ thể hơn, các tác giả đã đi vào so sánh hiệu quả của quản lý tài chính giữa khối công lập và dân lập, đưa ra những khẳng định bước đầu qua bài: “Tài chính, quản lý chi phí giữa các trường công lập và tư thục ở Inđônêxia”. Qua việc phân tích dữ liệu điều tra được, nghiên cứu cho kết quả: chi phí, hiệu quả tỷ lệ thuận với mức chi phí bỏ ra, thu nhập của cán bộ công nhân viên chức trong các trường học, số sinh viên được tuyển dụng sau khi tốt nghiệp các trường dạy nghề, cao đẳng và Đại học để đưa ra những giải pháp khắc phục tình trạng quản lý tài chính ở khối các trường dân lập mang lại hiệu quả hơn khối các trường công lập [68].
Năm 2003, Peter Lorange, tác giả của cuốn sách “Cách nhìn mới về quản lý giáo dục - thách thức đối với nhà quản lý”, bằng những lập luận của mình dựa trên 9 những lý thuyết về kinh tế, văn hóa để tìm ra cách thức quản lý giáo dục mang tính hiện đại. Tác giả đề cập rất nhiều về việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc học, các yếu tổ của người quản lý ảnh hưởng tới giáo dục, những chủ thể trong xã hội sẽ thẩm định lại sản phẩm giáo dục. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh và khẳng định: Khi chất lượng đào tạo tốt và người quản lý giáo dục có tầm nhìn sẽ định hướng được nhu cầu thị trường,….[81] Nội dung cuốn sách đã đưa ra rất nhiều điểm mới về quản lý giáo dục so với các nghiên cứu trước đó, nổi bật là phân tích chuyên sâu để tìm ra giải pháp quản lý tài chính cho hoạt động giáo dục như tìm nguồn tài chính khác ngoài nguồn NSNN, thiết kế quy trình quản lý tài chính cho các cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, việc xây dựng một hệ thống chỉ tiêu để đánh giá và phân loại trường có khả năng tự chủ tài chính thì chưa được thể hiện trong các công trình nghiên cứu đã công bố.
Tác giả chuyên sâu vào những giới hạn cụ thể của quản lý tài chính tại các trường Đại học công lập (quản lý thu - chi - quản lý tài sản công) để phân loại khả năng tự chủ tài chính các cơ sở giáo [81]. Đối với nước ta, đây cũng là vấn đề đang được thu hút và nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này với nhiều kết quả, ý kiến khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau theo từng cách thức tiếp cận. Các bài báo, tạp chí bàn về vấn đề tài chính công và quản lý chi tiêu công cho lĩnh vực giáo dục đào tạo rất phong phú; đối tượng nghiên cứu khá rộng và nhiều giải pháp đã được đề xuất mang tính định hướng cho cá nhân tổ chức hay toàn bộ cả hệ thống.
Các công trình này rất có giá trị đối với cơ quan chủ quản các cơ sở giáo dục và các cơ quan quản lý Nhà nước khi triển khai các đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục, đào tạo. Các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, khá "gần" với lĩnh vực nghiên cứu của đề tài phải kể đến các luận văn, luận án tiến sĩ hay các báo cáo khoa học. Có nhiều công trình nghiên cứu khá toàn diện, chi tiết và liên quan gần đến cơ chế quản lý tài chính nói chung, tài chính cho giáo dục nói riêng. Đáng chú nhất trong các luận án tiến sĩ là hai công trình của hai tác giả Đặng Văn Du và Lê Phước 10 Minh.
Tác giả Đặng Văn Du với luận án: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, đã phân tích khá sâu sắc về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học. Luận án đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho GDĐH ở Việt Nam, qua đó phân tích tác động của hoạt động đầu tư tài chính đến GDĐH qua các tiêu chí được xây dựng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho GDĐH ở nước ta. Tuy nhiên, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào hiệu quả đầu tư tài chính đối với GDĐH nói chung, khó có thể vận dụng với mô hình đào tạo khá đặc thù đó là đào tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam [20]. Luận án của tác giả Lê Phước Minh với đề tài: Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam lại tập trung nghiên cứu chính sách tài chính cho hoạt động giáo dục với phạm vi GDĐH.
Luận án nghiên cứu về thực trạng những chính sách tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, chỉ ra những cơ hội và thách thức, đề xuất quan điểm, giải pháp để hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục ở nước ta. Do góc độ nghiên cứu về phân tích chính sách tài chính cho giáo dục nên những kết quả và giải pháp của Luận án có giá trị tham khảo tốt với các cơ quan quản lý vĩ mô hơn là đối với một chương trình đào tạo điển hình. Ngoài ra, ở cấp độ quản lý thì có sự khác nhau giữa chính sách tài chính cho giáo dục và cơ chế quản lý tài chính đối với chương trình đào tạo chất lượng cao, cần có những nghiên cứu và đánh giá khác nhau [46].