MỞ ĐẦU 1. Sự cấp thiết của đề tài Giáo dục - đào tạo đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và có một vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển đất nước, là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. Giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo ra nguồn lực lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo có phẩm chất đạo đức tốt đây là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Giáo dục - đào tạo không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hoá tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo đã được Đảng và Nhà nước nhấn mạnh trong Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội XI của Đảng: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển” [12, Tr. Như vậy có thể khẳng định rằng giáo dục - đào tạo đóng vai trò then chốt là “Quốc sách” hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo nên trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân sách còn nhiều khó khăn, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư cho giáo dục - đào tạo.
Trong vòng 15 năm qua (từ 1998 - 2013), Nhà nước tăng dần đầu tư cho giáo dục - đào tạo từ mức 13% lên 20% tổng chi ngân sách nhà nước, dự toán chi NSNN năm 2013 đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo đạt 20% tổng chi NSNN. Với tỷ lệ chi ngân sách cho giáo 1 z dục như trên, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới. Từ nguồn ngân sách đó, sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và sự nghiệp giáo dục – đào tạo trên địa bàn Hà Tĩnh nói riêng đã đạt được nhiều kết quả cao; đã hình thành được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học; hệ thống giáo dục - đào tạo đã bước đầu được đa dạng hoá cả về loại hình, phương thức và nguồn lực, từng bước hội nhập với xu thế chung của giáo dục thế giới. Từ một hệ thống giáo dục - đào tạo chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy đến nay đã có các trường ngoài công lập, có nhiều loại hình không chính quy, có các trường mở, có phương thức đào tạo từ xa, phương thức liên kết đào tạo với nước ngoài, trình độ học vấn cũng như đời sống của cán bộ giáo viên được cải thiện đáng kể, công bằng trong giáo dục về cơ bản được đảm bảo, công tác xã hội hoá giáo dục đã đem lại kết quả bước đầu… Tuy nhiên thực tế cho thấy công tác quản lý chi NSNN cho GD - ĐT trong cả nước cũng như ở Hà Tĩnh còn tồn tại nhiều bất cập dẫn đến hiệu quả các khoản chi này chưa cao, gây lãng phí thất thoát nguồn vốn ngân sách và chưa thực sự góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước, chất lượng giáo dục nhìn chung thấp và không đồng đều giữa các vùng, miền, chủ yếu quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; đội ngũ giáo viên vừa yếu vừa thiếu và không đồng bộ, phương pháp giảng dạy còn lạc hậu; công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo nói riêng còn nhiều yếu kém cả trong xây dựng thể chế, chỉ đạo điều hành, kiểm tra giám sát và xử lí vi phạm đây là nguyên nhân chủ yếu của nhiều yếu kém khác.
Cơ chế quản lý giáo dục - đào tạo chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước. Đạo đức và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp, công tác xây dựng đội ngũ 2 z nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu. Cơ sở vật chất trường lớp còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, nội dung giáo dục còn thiếu thiết thực, chương trình giáo dục còn nặng nề, chưa bám sát yêu cầu của cuộc sống năng động…. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo và xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên nên tôi đã chọn đề tài "Quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục- đào tạo ở Hà Tĩnh" làm luận văn tốt nghiệp.
Luận văn cố gắng giải đáp các câu hỏi: Những vấn đề bất cập trong quản lý chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo trên địa bàn Hà Tĩnh hiện nay là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến những bất cập đó? Giải pháp khắc phục ? 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo là vấn đề mà các cơ quan quản lý và sử dụng kinh phí giáo dục - đào tạo đều quan tâm. Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này đăng ở các tạp chí Giáo dục, tạp chí Kinh tế và các tạp chí Cộng sản, các luận án, luận văn đã bảo vệ như: Nguồn lực cho giáo dục: Đầu tư chưa tương xứng với quy mô (Võ Trí Thành - 2013): Bài viết này đánh giá mức độ đầu tư từ NSNN cho giáo dục tăng dần hàng năm, nhưng do quy mô giáo dục tiếp tục phát triển, nên bình quân chi ngân sách trên đầu học sinh, sinh viên lại tăng không đáng kể, việc phân bổ NSNN cho giáo dục hiện nay vẫn còn bất hợp lý, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức quy mô bộ máy và tài chính trong các cơ sở giáo dục công lập ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả đẫn đến chất lượng giáo dục - đào tạo còn thấp, nguồn vốn ngân sách sử dụng kém hiệu quả… Phát triển giáo dục - đào tạo - KHCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- 3 z HĐH (Nguyễn Duy Bắc - 2013): Bài viết này phân tích vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành tựu chủ yếu của đổi mới và phát triển giáo dục và những yếu kém của giáo dục Việt Nam, phân tích những bối cảnh mới ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của Việt Nam, mục tiêu và quan điểm phát triển giáo dục - đào tạo - khoa học công nghệ trong thời kỳ CNH - HĐH. Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông ở Hà Nội ( Luận án tiến sĩ - Nguyễn Duy Phong - 2003) Luận án đã trình bày có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục, vai trò và tầm quan trọng của giáo dục đối với phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý tài chính giáo dục ở Việt Nam và ở thành phố Hà Nội.
Luận án đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông… Sự cần thiết phải tăng cường quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo ở Việt nam (Luận văn - Hoàng Anh Vũ - 2012) luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo hiện nay. Chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, các tác giả (Đỗ Minh Cương - 2001, Phạm Minh Hạc - 1996, Dương Hoàng Anh - 2007, John Bratton và Jeff Gold - 2007) đã nghiên cứu khá sâu sắc về các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với quản trị nguồn nhân lực, chỉ rõ đối tượng của phát triển nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, các tác giả cũng có các quan điểm khác nhau về yếu tố cấu thành 4 z nguồn nhân lực; nội dung phát triển nguồn nhân lực ít được đề cập đến; chưa có công trình nào chính thức nói về vấn đề tiêu chí phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo trên địa bàn Hà Tĩnh vì vậy tác giả nghiên cứu đề tài này với hy vọng làm rõ thêm về công tác quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo tại Hà Tỉnh nhằm giúp cho việc quản lý chi NSNN của tỉnh Hà Tĩnh trong lĩnh vực này đạt hiệu quả cao hơn. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: Thông qua việc làm rõ những nội dung lý luận cơ bản về Ngân sách nhà nước, vai trò của giáo dục - đào tạo, quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước, đề tài tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để tìm ra những mặt tích cực và những hạn chế trên cơ sở đó chỉ ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục. Nhiệm vụ: - Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về về NSNN, vai trò của giáo dục - đào tạo và quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo.
- Nghiên cứu thực trạng chi ngân sách nhà nước và quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tỉnh Hà Tĩnh.