Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính ở các trường THPTCL trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015-2017.
Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường THPTCL trên địa bàn tỉnh Thái Bình. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CÔNG LẬP 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.Tổng quan các nghiên cứu 1.Các nghiên cứu nước ngoài TCTC đã trở thành một xu thế mạnh mẽ và phổ biến trên thế giới, do vậy cũng có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu về vấn đề này. Một số nghiên cứu nước ngoài có thể kể đến như sau: Theo Hauptman (2006) thì có ba nguồn tài chính nhằm duy trì các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của các trường công lập bao gồm nguồn NSNN cấp, học phí và các khoản đóng góp từ xã hội. Trong đó, đóng góp từ NSNN là quan trọng nhất, vì vậy không thể giảm sự hỗ trợ 100% từ NSNN và để các trường tự tìm nguồn kinh phí hoạt động.
Do đó, trong hoạt động của các trường nên kết hợp linh hoạt các nguồn tài chính trên. Cũng theo Hauptman (2007) có ba mô hình về tài chính cho các trường công lập: Mô hình 1: Miễn học phí ho c áp dụng học phí thấp Theo mô hình này thì nguồn tài chính chủ yếu của các trường công lập là từ NSNN (chiếm khoảng 90%), học phí chiếm tỷ trọng thấp (chiếm khoảng 10%). Trong mô hình này, các trường công lập phải hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài trợ của Nhà nước, học phí hoàn toàn bị kiểm soát. Để có thể áp dụng thành công mô hình này, các quốc gia cần phải có đủ năng lực tài chính để đầu tư cho giáo dục công lập.
Mô hình 2: Học phí được hoàn trả sau khi tốt nghiệp Theo mô hình này thì NSNN sẽ đóng vai trò là nguồn đầu tư ban đầu cho các trường công lập, những đối tượng thụ hưởng dịch vụ giáo dục phải trả tương xứng với chất lượng của dịch vụ cung cấp theo phương thức vay tín dụng và trả sau khi tốt nghiệp. Để áp dụng được mô hình này cần có hai điều kiện: một là mức độ đầu tư ban đầu của NSNN và các thành phần khác đủ hình thành một công lập có chất 6 z lượng, hai là Nhà nước cần thiết lập được một cơ chế hữu hiệu nhằm thu hồi nợ vay của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mô hình 3: Tăng học phí kết hợp với các chính sách hỗ trợ Theo mô hình này, mức học phí phải được tính toán sao cho có thể bù đắp một phần đáng kể các chi phí hoạt động của các trường công lập, đồng thời mô hình này sẽ hướng đến các chính sách hỗ trợ học phí đối với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Gia tăng học phí được xem như một giải pháp chủ yếu nhằm chia sẽ chi phí giáo dục.
Như vậy, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh và khả năng nguồn NSNN đầu tư cho giáo dục đại học mà có thể lựa chọn mô hình tài chính thích hợp áp dụng cho các trường công lập. Kim Gwang – Jo (2010) cho rằng điều kiện và giải pháp để nâng cao tự chủ , TCTC cho nhà trường là Nhà nước phải cụ thế hóa nó trong các điều khoản luật, phải có các biện pháp ưu đãi, xử phạt về hành vi của người ra quyết định; khuyến khích thu hút các nguồn thu tài chính từ khu vực tư nhân bằng cơ chế tài trợ. Loại bỏ các rào cản pháp lý, đảm bảo nguồn lực tài chính cho nhà trường đầu tư cho mục tiêu giảng dậy chất lượng cao.B (2011), đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới TCTC của các trường. Nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng cơ chế quản lý, kiểm soát, cách tài trợ ngân sách ảnh hưởng trực tiếp đến sự tự chủ của các trường.
Ngoài ra, sự năng động, sáng tạo, cơ cấu tổ chức sẽ quyết định tới nguồn thu tài chính của các trường. Việc đa dạng hóa nguồn tài chính của các trường quyết định mức độ tự chủ của các trường. (2011) các nguồn tài trợ chính của nhà trường có thể kể đến là: học phí; tài trợ công; nguồn thu đến từ các doanh nghiệp, nhà tài trợ; các hoạt động thương mại, hoạt động tài chính và thu dịch vụ khác như thư viện, trông xe, nhà ăn …. Trong cơ cấu nguồn thu, tài trợ công chiếm tỉ trọng lớn nhất, sau là học phí và sau cùng là các nguồn thu khác.
Tác giả cũng đã đề cập tới việc một số trường đã được tự quyết định mức thu học phí của mình. Các nghiên cứu trong nước Ở trong nước cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự chủ và TCTC như: 7 z Đỗ Bích Loan (2008), đề tài đề xuất các biện pháp huy động nguồn tài chính trong đầu tư phát triển giáo dục Việt Nam trong khuôn khổ chính sách, pháp luật của nhà nước Việt Nam, đây là một nội dung rất quan trọng để thực hiện thành công được cơ chế tự chủ đối với các trường học. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cộng sự (2012) nghiên cứu các chính sách phi tập trung hóa tài chính cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đối với các trường THPT Việt Nam, đề tài đã chỉ ra được thực trạng và điều kiện cần thiết để thực thi được cơ chế tự chủ cho các trường công lập. Đồng thời nghiên cứu chỉ ra được thành tựu, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của thành tựu, hạn chế đó giúp hoàn thiện cơ chế, chính sách ở Việt Nam.
Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường THPT cho đến nay vẫn chưa đạt được kết quả cao, việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính vẫn còn nhiều hạn chế và mâu thuẫn trong thực tế. Đã có nhiều công trình, bài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước đánh giá, phân tích thực trạng việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính tại các trường công lập, những kết quả đạt được, các hạn chế, nguyên nhân các hạn chế, các giải pháp tăng hiệu quả áp dụng cơ chế tự chủ tài chính của các trường THPT công lập ở Việt Nam hiện nay. Các công trình tập trung nghiên cứu vào 3 vấn đề chính của cơ chế tự chủ tài chính tại các trường công lập gồm cơ chế phân bổ nguồn lực tài chính, huy động nguồn lực tài chính, sử dụng các nguồn tài chính. Thứ nhất, về cơ chế phân bổ nguồn lực tài chính Nguyễn Trường Giang (2012) chỉ ra việc phân bổ NSNN cho các cơ sở đào tạo công lập mang tính bình quân, chưa gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo.
Việc giao dự toán NSNN cho các trường công lập được thực hiện theo cơ chế khoán, việc giao khoán được căn cứ vào khả năng của ngân sách, dự toán được giao năm trước để làm căn cứ giao khoán năm sau, việc giao khoán ngân sách dựa trên các định mức ban hành đã lâu, chưa được sửa đổi, mức khoán NSNN không được điều chỉnh theo số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo của các trường hàng năm. Việc phân bổ này không gắn với kết 8 z quả đào tạo, số lượng, chất lượng học sinh đào tạo, tính năng động, hiệu quả trong tổ chức hoạt động của các cơ sở đào tạo nên không tạo động lực cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo giữa các trường công lập. Nguyễn Minh Thuyết (2014) đề cập đến vấn đề phân bổ NSNN cho các trường công lập, các trường công lập nhận kinh phí hoạt động từ NSNN theo chỉ tiêu đào tạo, tức là số lượng người học được Nhà nước đài thọ (số này thường chỉ bằng 1/3 số người học trong thực tế) và có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn NSNN theo quy định của Luật NSNN. Kinh phí NCKH trên thực tế được phân bổ theo số lượng cán bộ, thường là bằng 1/3 kinh phí chi theo số lượng cán bộ cho các viện NCKH.
Các trường công lập được quyết định mức học phí trong phạm vi khung học phí do Chính phủ ban hành. Điều nay gây ra nhiều khó khăn cho các trường công lập trong việc giảng dạy và NCKH. Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp đổi mới việc phân bổ ngân sách cho các trường công lập trong thời gian tới. Thứ hai, về huy động nguồn lực tài chính của các trường công lập Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012) cho rằng việc áp mức trần học phí theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ tại các trường công lập áp dụng cơ chế tự chủ về tài chính là chưa hợp lý.
Các tác giả đề xuất, đối với các ngành nghề có khả năng xã hội hóa cao (ví dụ tài chính, ngân hàng, thương mại) nên xây dựng lộ trình cho phép các cơ sở đào tạo tự xác định mức học phí, đảm bảo tự cân đối kinh phí đào tạo. NSNN tiết kiệm được từ những ngành nghề này chuyển sang góp phần thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng đối với các ngành nghề đào tạo ít có khả năng xã hội hóa (ví dụ khoa học cơ bản, nghệ thuật, điện hạt nhân, sư phạm) với mức giá đặt hàng được tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo. Để thực hiện việc cải cách học phí và cơ chế cấp phát NSNN vừa nêu, các tác giả đề xuất thực hiện đồng thời hai giải pháp: một là xây dựng và phê duyệt đề án tự chủ tài chính (trong đó có chính sách học phí) theo trường; hai là Nhà nước chủ động từng bước giao quyền tự chủ tài chính cao hơn cho toàn khối giáo dục (trong đó có quyền tự chủ về xác định mức học phí). Tuy nhiên các giải pháp này mới dừng lại ở tính định hướng, cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa để có thể triển khai thực tế.
9 z Nguyễn Vân Anh (2015) đã nghiên cứu về việc quản lý tài chính trong nhà trường trung học phổ thông theo hướng tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý trường THPT và bản chất công tác quản lý tài chính trong các nhà trường THPTCLtheo định hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm; chỉ ra được thực trạng quản lý tài chính các trường THPTCL, đánh giá được những mặt yếu kém và tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến những yếu kém trong TCTC trong các trường THPTCL.