Tổng quan luận án

Sự phát triển của khoa học công nghệ đặt nguồn lực con người vào vị trí quyết định đối với sự tăng trưởng bền vững của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, tình trạng thiếu hụt nhân lực trình độ cao tại nhiều ngành kinh tế và cơ cấu lao động qua đào tạo còn thấp đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới căn bản giáo dục đại học. Trường đại học công lập giữ vai trò là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và xuất khẩu tri thức. Tuy nhiên, uy tín và thương hiệu của cơ sở giáo dục đại học phụ thuộc vào năng lực đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất hiện đại, những yếu tố đòi hỏi nguồn tài chính đủ lớn và quyền tự chủ tài chính ở mức độ cao.

Thực tế qua hai lần cải cách cơ chế tài chính công (theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP), nhiều rào cản hành chính đã bước đầu được tháo gỡ. Dù vậy, cơ chế tự chủ tài chính hiện hành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính ràng buộc tổ chức và sự đồng thuận xã hội. Cơ chế chưa tạo ra sự chủ động trong tạo lập nguồn tài chính, chưa phân định rõ tự cân đối thu chi và trách nhiệm giải trình của nhà trường trước xã hội và người học. Cơ cấu tài chính của các trường đại học công lập còn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước (dưới 50%, thậm chí nhiều trường chỉ đạt 10% đến 20%) và nguồn thu học phí (chiếm trên 50% nguồn thu ngoài ngân sách). Ngoại trừ khối trường kinh tế và luật có khả năng bảo đảm trên 50% mức chi từ nguồn thu sự nghiệp, các khối y dược, thể thao, văn hóa nghệ thuật gặp khó khăn lớn trong việc tự cân đối. Với suất đầu tư chỉ khoảng 400 đến 500 USD/sinh viên/năm (thua kém 8 đến 10 lần so với các nước trong khu vực), giáo dục đại học công lập khó đạt chuẩn chất lượng quốc tế nếu không hoàn thiện cơ chế tài chính. Do đó, đề tài "Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam" được tác giả Trần Đức Cân thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Quang Trung và TS. Nguyễn Trường Giang tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2012) thuộc chuyên ngành Kinh tế Tài chính Ngân hàng (Mã số: 62.01).

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế này. Luận án đặt ra 1 câu hỏi quản lý và 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi quản lý: Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính như thế nào để tăng cường tự chủ tài chính các trường đại học công lập?
  • Câu hỏi nghiên cứu (1): Phân tích cơ chế tự chủ tài chính (Nghị định 43/2006/NĐ-CP) từ góc độ trường đại học công lập; chỉ ra thuận lợi, khó khăn và đánh giá tác động ban đầu của cơ chế tới tạo lập, sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình và khả năng tự chủ của các trường?
  • Câu hỏi nghiên cứu (2): Nhà nước cần đổi mới cơ chế tự chủ tài chính như thế nào để thúc đẩy tạo nguồn thu, nâng cao hiệu quả sử dụng và trách nhiệm giải trình tài chính của trường đại học công lập?
  • Câu hỏi nghiên cứu (3): Để thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính của trường đại học công lập cần những điều kiện gì?

Mô hình nghiên cứu của luận án xác định biến phụ thuộc là cơ chế tự chủ tài chính (được đo lường qua 6 tiêu chí: tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính ràng buộc tổ chức, sự chấp nhận của cộng đồng) chịu sự tác động hai chiều của 3 biến độc lập: (1) Ảnh hưởng của mục tiêu phát triển giáo dục đại học; (2) Ảnh hưởng cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước; (3) Ảnh hưởng cơ chế tài chính do trường đại học xây dựng qua quy chế chi tiêu nội bộ. Luận án kiểm định 3 giả thuyết:

  • H1: Cơ chế tự chủ tài chính có tác động tạo ra sự đa dạng hóa nguồn thu; tăng quy mô, hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính; nâng cao đời sống cán bộ viên chức các trường đại học công lập.
  • H2: Cơ chế tự chủ tài chính đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng các trường đại học công lập trong cải cách cơ chế quản lý tài chính công của Nhà nước.
  • H3: Cơ chế tự chủ tài chính có tác động tăng sự linh hoạt; tạo ra sự công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các trường đại học công lập trong quá trình hoạt động đáp ứng nhu cầu đào tạo của xã hội.

Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố cấu thành cơ chế tự chủ tài chính, các tiêu chí đánh giá và ảnh hưởng của cơ chế tới việc tạo lập, sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính của các trường đại học công lập. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các chế độ, chính sách, cơ chế tài chính của Nhà nước và các quy chế tài chính nội bộ của trường đại học; dữ liệu khảo sát và thống kê được thu thập có chọn lọc tại các trường thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ ngành chủ quản, Đại học Quốc gia và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản trị đại học và tự chủ tài chính:

Các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ:

  • Bản chất và xu thế: Tự chủ tài chính là xu thế tất yếu của giáo dục đại học hiện đại (tài liệu [175]).
  • Nguồn tài chính và cơ cấu chi phí: Khảo sát tại các đại học Châu Âu cho thấy tài trợ công chiếm khoảng 75%, học phí chiếm 15%, các nguồn thu khác chiếm 10%; trong khi chi phí biên chế nhân sự chiếm từ 60% đến 90% tổng chi (tài liệu [167, 136]).
  • Thách thức và cơ chế quản trị: Đa dạng hóa tài chính làm tăng mức độ phức tạp trong quản trị khi nhiều đại học Châu Âu quản lý hơn 100 nguồn thu khác nhau (tài liệu [162]). Việc giao quyền tự chủ phải gắn liền với hiệp định thỏa thuận nhiệm vụ 3 năm với Nhà nước, cơ chế đồng tài trợ (như tại Phần Lan: huy động 1 euro từ tư nhân được Nhà nước cấp thêm 2,5 euro), thành lập Hội đồng quản trị đa thành phần không bên nào nắm đa số tuyệt đối, và kiểm toán bắt buộc định kỳ (Hàn Quốc kiểm toán 2 năm một lần) (tài liệu [162, 166, 175, 178, 180]). Thước đo mức độ tự chủ tài chính gắn với sản lượng khoa học, công trình công bố và trích dẫn (tài liệu [184]).

Các nghiên cứu trong nước:

  • Các học giả (tài liệu [37, 60, 63, 97]) đã phân tích kinh nghiệm tự chủ tại Mỹ, Hàn Quốc và bước đầu áp dụng tại Việt Nam, tác động của lộ trình tăng học phí.
  • Các công trình (tài liệu [36, 50, 91, 94]) đánh giá Nghị định 10/2002/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý ban đầu, giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chủ quản, hỗ trợ tăng nguồn thu sự nghiệp và cải thiện thu nhập cho cán bộ viên chức.
  • Các hạn chế được chỉ ra (tài liệu [47, 52, 58, 159]) gồm: sự phân bổ ngân sách nghiên cứu khoa học và chi thường xuyên còn cào bằng theo yếu tố đầu vào; học phí thấp; kiểm soát đầu vào nặng nề nhưng thiếu trách nhiệm giải trình đầu ra; vướng mắc trong thủ tục đầu tư, mua sắm tài sản theo Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Phần lớn các nghiên cứu trước đây vẫn xem trường đại học công lập thuần túy là đơn vị sự nghiệp có thu làm nhiệm vụ cung cấp nhân lực cho khu vực công, chưa nhìn nhận trường học như một chủ thể cung ứng dịch vụ tri thức trong nền kinh tế thị trường hội nhập. Các nghiên cứu trước chỉ tiếp cận đơn lẻ ở một khía cạnh nghiệp vụ (như kế toán), thiếu dữ liệu tài chính toàn diện giai đoạn 2006–2011 để đánh giá tác động của cơ chế tới việc mở rộng nguồn thu, cơ cấu chi và hiệu quả vốn ngân sách; chưa xây dựng được khung tiêu chí chuẩn hóa để đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính áp dụng chung cho toàn hệ thống. Luận án lựa chọn giải quyết toàn diện các khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự tích hợp giữa các trường phái quản trị giáo dục đại học và tài chính công:

  • Khung khái niệm về quyền tự chủ đại học: Kế thừa quan điểm của Ashby và Anderson (1966) với 6 yếu tố tự do; Berdahl (1990) với sự phân định giữa tự chủ thực chất (nội dung/sứ mạng) và tự chủ thủ tục; Frazier (1997) với 7 yếu tố gắn với trạng thái pháp lý và trách nhiệm giải trình; Verhoest et al. (2004), Jongbloed và Ordorika (2003, 2004).
  • Khung phân tích cấu trúc tự chủ tài chính: Tổng hợp quan điểm của Volkvein (1986 - 9 tiêu chí), Cazenave (1992), Ziderman (1994), McDaniel (1996), Sheehan (1997), Jongbloed (2000, 2004), Rothblatt (2002), Ordorika (2003). Luận án kết hợp hai hướng tiếp cận: tiếp cận nguồn lực (quản lý nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ) và tiếp cận chủ thể (chủ thể pháp lý, chủ thể quản trị nội bộ, chủ thể kinh tế độc lập).
  • Bộ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính gồm 6 tiêu chí: Tính hiệu lực; Tính hiệu quả; Tính linh hoạt; Tính công bằng; Tính ràng buộc về mặt tổ chức; Sự chấp nhận của cộng đồng.
  • Khung lý thuyết ứng dụng Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC của Kaplan & Norton) để quản trị hiệu quả hoạt động và tài chính trong trường đại học công lập.

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng.

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thường niên của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo tài chính - đầu tư của 10 trường đại học công lập, các báo cáo phân tích của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và số liệu thống kê giáo dục từ năm 2001 đến năm 2011.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua quan sát, tham dự các hội thảo khoa học chuyên đề về cơ chế tài chính và Luật Giáo dục đại học; gửi phiếu điều tra khảo sát tới 60 trường đại học công lập (thu thập dữ liệu về tài chính, thu nhập tăng thêm, quy mô sinh viên, nhận thức về tự chủ); phỏng vấn sâu cán bộ quản lý tài chính, lãnh đạo trường, chuyên viên Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ GD&ĐT), Vụ Hành chính sự nghiệp (Bộ Tài chính), Bộ Công Thương. Mẫu khảo sát bao phủ các mô hình quản lý (Bộ GD&ĐT, Bộ ngành khác, Đại học Quốc gia, UBND tỉnh/thành phố) tại các vùng kinh tế trọng điểm (Đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long...).
  • Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm bảng tính Excel để thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu, phân tích cơ cấu, tốc độ tăng trưởng nguồn thu, chi, suất đầu tư và so sánh tương quan giữa các nhóm trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lời mở đầu

Chương này giới thiệu tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế. Tác giả xác định mục đích nghiên cứu, câu hỏi quản lý, câu hỏi nghiên cứu, mô hình nghiên cứu với 3 giả thuyết và 6 tiêu chí đánh giá. Chương 1 cũng trình bày đối tượng, phạm vi nghiên cứu (giai đoạn 2006–2011), phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu, tổng quan chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời chỉ ra khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính của trường đại học công lập

Chương 2 phân tích vị trí của trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giai đoạn 2001–2011, số lượng trường đại học công lập tăng nhanh từ 57 trường (năm học 2000–2001) lên 106 trường (năm học 2010–2011, chiếm 69,28% tổng số trường đại học). Tính đến ngày 30/11/2011, cả nước có 149 trường đại học công lập trên tổng số 202 trường đại học. Về phân bố không gian và cơ quan chủ quản:

Vùng miền Số trường ĐHCL do TW quản lý Số trường ĐHCL do Địa phương quản lý Tổng số trường ĐHCL Tỷ lệ (%)
Vùng Tây Bắc 1 0 1 0,67%
Vùng Đông Bắc 9 1 10 6,71%
Vùng Đồng bằng Sông Hồng 65 4 69 46,31%
Vùng Bắc Trung Bộ 10 5 15 10,07%
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 9 3 12 8,05%
Vùng Tây Nguyên 2 0 2 1,34%
Vùng Đông Nam Bộ 28 4 32 21,48%
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 4 4 8 5,37%
Tổng cộng 128 21 149 100,00%

Về cơ quan chủ quản, Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 33,56% số trường, trong khi các Bộ, ngành khác và địa phương quản lý tới 66,44%. Tác giả đối chiếu hai quan điểm lý thuyết về đại học: chủ nghĩa lý tưởng ("thánh đường tri thức" - Wolff, Neave) và chủ nghĩa duy thực ("trạm dịch vụ xã hội", đơn vị sản xuất tri thức - Polin). Tác giả phân tích xu thế đại chúng hóa giáo dục đại học (tổng tuyển sinh toàn cầu tăng từ 92,5 triệu sinh viên năm 1999 lên 150,5 triệu năm 2007 theo UNESCO 2010) và thương mại hóa giáo dục đại học (xuất khẩu giáo dục tại Mỹ đạt 17,8 tỷ USD năm 2009; Úc đạt 6 tỷ AUD năm 2004).

Chương 2 làm rõ nội dung tự chủ tài chính gồm: (1) Tự chủ trong quản lý, khai thác nguồn thu (ngân sách nhà nước, thu sự nghiệp/học phí, viện trợ, nguồn khác); (2) Tự chủ trong quản lý chi tiêu (chi thường xuyên, không thường xuyên, khoán chi, trích lập các quỹ, chi trả thu nhập tăng thêm theo quy chế chi tiêu nội bộ); (3) Tự chủ quản lý và khai thác tài sản, đất đai. Tác giả phân tích các tác động tích cực (tăng tính cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ viên chức) và tiêu cực (nguy cơ thương mại hóa làm tổn hại mục tiêu xã hội, cạnh tranh không lành mạnh, khó khăn cho trường nhỏ, chạy theo chỉ tiêu buông lỏng chuẩn đầu vào), cùng các nhân tố thể chế ảnh hưởng (Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý sử dụng tài sản nhà nước, Luật Doanh nghiệp).

Chương 3: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập Việt Nam

Chương 3 đánh giá việc triển khai Nghị định 43/2006/NĐ-CP tại các trường đại học công lập Việt Nam qua 6 tiêu chí hoàn thiện, sử dụng dữ liệu khảo sát 50–60 trường đại học công lập giai đoạn 2006–2011:

  • Tính hiệu lực: Hành lang pháp lý từng bước hình thành nhưng nhận thức và triển khai tự chủ tài chính giữa các cơ quan quản lý và các trường chưa đồng bộ (Bảng 3.4).
  • Tính hiệu quả: Được phân tích toàn diện qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm:
    • Cơ cấu nguồn thu: Ngân sách nhà nước cấp có xu hướng giảm tỷ trọng, nguồn thu từ học phí và lệ phí chiếm tỷ trọng chi phối trong nguồn thu sự nghiệp; nguồn thu từ dịch vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ còn rất nhỏ (Bảng 3.5, 3.13; Biểu đồ 3.1).
    • Cơ cấu chi tiêu: Chi con người và chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn; chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đầu tư tăng cường cơ sở vật chất còn thấp (Bảng 3.8, 3.15, 3.20, 3.21).
    • Suất đầu tư và cơ sở vật chất: Suất đầu tư trên mỗi sinh viên ở mức thấp (Biểu đồ 3.2); diện tích đất bình quân, phòng học, phòng thí nghiệm, ký túc xá chưa đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định (Bảng 3.23 – 3.30).
    • Thu nhập và chênh lệch thu chi: Cơ chế chi thu nhập tăng thêm phụ thuộc lớn vào khả năng tuyển sinh của từng khối ngành (Bảng 3.32, 3.33, 3.34).
    • Năng lực giảng viên và khoa học: Tỷ lệ sinh viên/giảng viên cao, số lượng công trình công bố khoa học bình quân trên một giảng viên còn hạn chế do mức chi cho một đề tài nghiên cứu khoa học thấp (Bảng 3.35 – 3.45).
  • Tính linh hoạt: Quy định khung học phí và các định mức chi tiêu công còn cứng nhắc, thủ tục phê duyệt mua sắm tài sản và giải ngân qua Kho bạc Nhà nước phức tạp.
  • Tính công bằng: So sánh tốc độ tăng học phí với tăng lương tối thiểu cho thấy sức ép chi phí lên người học có hoàn cảnh khó khăn; cơ chế tín dụng sinh viên và chính sách miễn giảm học phí chưa bù đắp kịp thời chi phí đào tạo (Bảng 3.46).
  • Tính ràng buộc tổ chức và sự thừa nhận của cộng đồng: Mối liên kết giữa quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình xã hội và kiểm định chất lượng chưa chặt chẽ; mức độ đồng thuận của xã hội và cán bộ viên chức đối với các phương án tự chủ tài chính còn có sự phân hóa (Bảng 3.47, 3.48).

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học công lập Việt Nam

Chương 4 đề xuất quan điểm và 6 nhóm giải pháp tương ứng với 6 tiêu chí hoàn thiện:

  • Nhóm giải pháp nâng cao tính hiệu lực: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước giữa Bộ GD&ĐT với các Bộ chủ quản và UBND cấp tỉnh; chuyển đổi cơ chế quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
  • Nhóm giải pháp nâng cao tính hiệu quả: Đổi mới phương thức phân bổ ngân sách nhà nước theo công thức tài trợ gắn với kết quả đầu ra (chất lượng đào tạo, số lượng ấn phẩm khoa học) thay cho cơ chế cấp phát bình quân theo chỉ tiêu đầu vào; đa dạng hóa nguồn thu thông qua thương mại hóa nghiên cứu, mở rộng dịch vụ đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp; triển khai mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC của Kaplan & Norton) trong quản trị chiến lược và tài chính nội bộ.
  • Nhóm giải pháp nâng cao tính linh hoạt: Mở rộng khung biên độ tự xác định mức học phí gắn với cam kết chất lượng; trao quyền tự chủ thực chất trong việc sử dụng quỹ phát triển sự nghiệp, quỹ khen thưởng phúc lợi và chủ động chi trả thu nhập theo năng suất lao động.
  • Nhóm giải pháp nâng cao tính công bằng: Phân tách rõ ràng giữa chính sách học phí thị trường và chính sách bảo trợ xã hội; hoàn thiện quỹ học bổng, mở rộng quy mô chương trình tín dụng ưu đãi trực tiếp cho người học.
  • Nhóm giải pháp nâng cao tính ràng buộc về mặt tổ chức: Bắt buộc công khai tài chính định kỳ, thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính độc lập, liên kết kết quả tự chủ tài chính với xếp hạng và kiểm định chất lượng giáo dục.
  • Nhóm giải pháp nâng cao sự đồng thuận của cộng đồng: Tăng cường minh bạch thông tin tuyển sinh và chi phí đào tạo; thành lập và nâng cao vai trò thực quyền của Hội đồng trường với sự tham gia của đại diện doanh nghiệp, giảng viên, người học và các bên liên quan.
  • Điều kiện thực hiện giải pháp: Đổi mới tư duy quản trị đại học, nâng cao năng lực đội ngũ quản lý tài chính và cải cách hành chính đồng bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ bản chất của tự chủ tài chính và cơ chế tự chủ tài chính trong trường đại học công lập dưới cả hai giác độ tiếp cận nguồn lực (tiền tệ và phi tiền tệ) và tiếp cận chủ thể (chủ thể pháp lý, chủ thể quản trị nội bộ, chủ thể kinh tế độc lập).
  • Tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ 5 quốc gia về phân bổ ngân sách khoán, tự chủ học phí và trách nhiệm giải trình.
  • Xác lập khung 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính (tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính ràng buộc tổ chức, sự chấp nhận của cộng đồng).
  • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động tài chính gắn với các chỉ số hoạt động thực tiễn (suất đầu tư/sinh viên, cơ cấu nguồn thu, cơ cấu chi phí, diện tích đất đai/sinh viên, năng suất nghiên cứu khoa học) và đề xuất ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC).

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích toàn diện bức tranh thực trạng cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP giai đoạn 2006–2011 tại hệ thống đại học công lập Việt Nam thông qua số liệu khảo sát 50–60 trường.
  • Chỉ rõ các nút thắt: tỷ trọng ngân sách nhà nước thấp, nguồn thu phụ thuộc quá mức vào học phí, phân bổ ngân sách chưa theo kết quả đầu ra, thiếu cơ chế trách nhiệm giải trình và kiểm toán độc lập.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ và xác định rõ các điều kiện tiên quyết về thể chế, quản trị nội bộ để thực hiện thành công việc giao quyền tự chủ tài chính ở mức độ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Việc tiếp cận số liệu tài chính và chỉ tiêu tuyển sinh gặp khó khăn do dữ liệu tại một số trường chưa được công bố công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin.
  • Tính nhất quán của dữ liệu sơ cấp từ phiếu khảo sát ở một vài trường chưa đồng đều (một số phiếu chưa điền đầy đủ câu hỏi hoặc cộng gộp dữ liệu sinh viên hệ đại học và cao đẳng).
  • Phạm vi khảo sát tập trung tại các trường đại học thuộc Bộ GD&ĐT, Bộ ngành, Đại học Quốc gia và một số tỉnh thành đại diện giai đoạn 2006–2011, chưa bao phủ toàn bộ 100% các cơ sở giáo dục đại học công lập trên cả nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Nghiên cứu thực nghiệm việc áp dụng công thức phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra khi triển khai Luật Giáo dục đại học năm 2012 và các nghị định hướng dẫn mới.
  • Đánh giá tác động dài hạn của mô hình Thẻ điểm cân bằng (BSC) đối với việc nâng cao năng lực tài chính và chất lượng đào tạo trong điều kiện tự chủ đại học toàn diện.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ ngành chủ quản): Cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn để rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về tự chủ tài chính, cơ chế phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra và khung học phí.
  • Đối với ban giám hiệu, hội đồng trường và cán bộ quản lý tài chính tại các trường đại học công lập: Cung cấp khung 6 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, mô hình BSC và phương pháp xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, đa dạng hóa nguồn thu và quản trị tài sản công.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính công, Quản lý kinh tế và Quản lý giáo dục: Là tài liệu tham khảo có giá trị về cơ sở lý thuyết tự chủ đại học, hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính giáo dục và phương pháp kết hợp nghiên cứu định tính - định lượng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những tiêu chí nào để đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính? Luận án xây dựng khung đánh giá gồm 6 tiêu chí: (1) Tính hiệu lực; (2) Tính hiệu quả; (3) Tính linh hoạt; (4) Tính công bằng; (5) Tính ràng buộc về mặt tổ chức; (6) Sự chấp nhận/đồng thuận của cộng đồng.

2. Thực trạng cơ cấu nguồn tài chính của các trường đại học công lập giai đoạn 2006–2011 được phản ánh như thế nào? Nguồn tài chính của các trường gồm ngân sách nhà nước cấp và nguồn ngoài ngân sách. Ngân sách nhà nước cấp chiếm tỷ trọng dưới 50% (nhiều trường chỉ đạt 10%–20%), nguồn ngoài ngân sách chiếm trên 50% nhưng chủ yếu dựa vào học phí và lệ phí; nguồn thu từ dịch vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Khối trường kinh tế, luật có khả năng tự bảo đảm trên 50% chi phí, trong khi khối y dược, thể thao, nghệ thuật gặp rất nhiều khó khăn.

3. Suất đầu tư bình quân cho một sinh viên đại học công lập Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu? Suất đầu tư cho một sinh viên đại học công lập tại Việt Nam giai đoạn này chỉ đạt khoảng 400 đến 500 USD/sinh viên/năm, thua kém từ 8 đến 10 lần so với các nước trong khu vực.

4. Luận án đề xuất ứng dụng mô hình quản trị công cụ nào để nâng cao tính hiệu quả tài chính của trường đại học? Luận án đề xuất ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC của Kaplan & Norton) nhằm thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa các mục tiêu tài chính, khách hàng (người học, doanh nghiệp), quy trình nội bộ và hoạt động học hỏi phát triển trong trường đại học công lập.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Đức Cân đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự chủ tài chính trường đại học công lập dưới hai giác độ tiếp cận nguồn lực và tiếp cận chủ thể. Thông qua dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2006–2011 tại các trường đại học công lập Việt Nam, công trình đã phân tích thực trạng thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP theo 6 tiêu chí hoàn thiện và chỉ rõ những hạn chế cốt lõi về cơ cấu thu chi, phân bổ ngân sách và trách nhiệm giải trình. Luận án đã đề xuất 6 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với ứng dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng (BSC) và các điều kiện thực thi nhằm thúc đẩy đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học công lập tại Việt Nam.