Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về quản lý tài chính và đổi mới quản lý tài chính giáo dục đại học Vũ Thị Thanh Thủy (2012) trong nghiên cứu “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” đã đưa ra những quan điểm về QLTC các trường ĐHCL, đặc biệt là QLTC theo hướng tự chủ tài chính. Tác giả đã xây dựng được một số chỉ tiêu đánh giá QLTC các trường ĐHCL như: tỷ lệ tăng thu nhập cho cán bộ, giảng viên; tỷ trọng đầu tư trang thiết bị trong tổng chi; tỷ lệ tiết kiệm chi; tỷ trọng từng nguồn thu; tỷ lệ chênh lệch thu chi trong đào tạo; tỷ trọng chi cho NCKH, mức độ sai phạm trong QLTC, tỷ lệ thất thoát tài chính… Trong đó có một số chỉ tiêu gần với các tiêu chí phản ánh chất lượng cơ sở đào tạo, được tác giả sử dụng làm tiêu chí đánh giá QLTC các trường như: tỷ lệ công trình NCKH đăng tải trên tạp chí quốc tế/ giáo viên, tỷ lệ công trình NCKH sinh viên được giải, tỷ lệ chương trình đào tạo (CTĐT) liên kết nước ngoài hoặc công nhận quốc tế [113].
Trương Thị Hiền (2017) trong luận án tiến sĩ “QLTC tại các trường ĐHCL trực thuộc bộ GĐ&ĐT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện tự chủ”, đã nghiên cứu vấn đề lý luận về QLTC tại các trường ĐHCL và thực tiễn QLTC tại 4 trường ĐHCL trực thuộc Bộ GĐ&ĐT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả kết luận rằng QLTC trong các trường đại học phức tạp và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, việc đổi mới công tác QLTC chỉ có thể thực hiện khi công tác tổ chức nhân sự, công tác chuyên môn nghiệp vụ được đổi mới đồng thời, và những quyết định QLTC của các trường đại học cần được đưa ra trong bối cảnh quyền tự chủ ngày càng mở rộng của các trường. Luận án cũng chỉ ra một loạt các chỉ tiêu phản ánh mức độ tự chủ tài chính của trường như: mức tự chủ nguồn kinh phí chi thường xuyên, cơ cấu nguồn tài chính, cơ cấu các khoản chi, chỉ số về cơ sở vật chất (CSVC), thu nhập tăng thêm của người lao động (NLĐ), suất đầu tư trên một sinh viên, tỷ lệ giảng viên/ sinh viên, số lượng và chất lượng của bài báo khoa học. Các chỉ tiêu này có thể hỗ trợ đánh giá mức độ đổi mới QLTC các trường ĐHCL trong điều kiện tự chủ.
Tuy nhiên, trong số các chỉ tiêu này, cũng có một số chỉ tiêu không trực 14 tiếp đo lường mức độ tự chủ của trường đại học, mà thực chất là các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của trường, chẳng hạn như: tỷ lệ giảng viên/ sinh viên, số lượng và chất lượng của bài báo khoa học [109]. Lê Văn Dụng (2017) trong nghiên cứu “Quản trị tài chính tại các trường ĐHCL ngành y ở Việt Nam”, trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận về quản trị tài chính với chủ thể quản lý là bản thân các trường đại học, phân tích thực trạng quản trị tài chính của 5 trường ĐHCL ngành y tế, tác giả nhấn mạnh việc xác định chi phí đào tạo và quản trị chi phí để đảm bảo nguồn kinh phí và phát triển của trường đại học. Đồng thời, việc tăng cường huy động nguồn tài chính từ khu vực tư nhân vào phát triển dịch vụ khám chữa bệnh và đào tạo của trường và việc xây dựng cơ chế hợp tác kinh tế giữa trường đại học và bệnh viện cũng được tác giả đề xuất. Ngoài ra, việc nâng cao hiệu lực của quy chế chi tiêu nội bộ để đảm bảo chất lượng đào tạo, NCKH và thu nhập tăng thêm cho NLĐ [54].
Phạm Thị Thanh Vân (2017), “QLTC nội bộ các trường ĐHCL ở Việt Nam” nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLTC nội bộ trong các trường ĐHCL ở Việt Nam với nội dung QLTC ở góc độ vi mô của cơ sở GDĐH gồm: quản lý thu, quản lý chi và quản lý tài sản theo quy trình từ lập kế hoạch tài chính, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, kiểm soát. Tác giả cũng xem xét 3 công cụ chủ yếu trong QLTC nội bộ các trường đại học: hệ thống kiểm soát nội bộ, kế toán quản trị, kiểm toán nội bộ. Nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến QLTC nội bộ các trường ĐHCL gồm các nhân tố bên ngoài như cơ chế và chính sách của Nhà nước, hội nhập quốc tế, trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức thu nhập của người dân; và các nhân tố bên trong như chiến lược phát triển của trường, các công cụ QLTC nội bộ, tổ chức bộ máy quản trị, kỹ năng quản trị và lãnh đạo, và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ QLTC nội bộ [84]. Nguyễn Thị Mai Lan (2019) nghiên cứu về “Quản trị tài chính tại các trường đại học trực thuộc Bộ Công thương trong điều kiện tự chủ.
Quản trị tài chính các trường ĐHCL trong điều kiện tự chủ bao gồm quản trị nguồn thu, quản trị chi phí, quản trị tài sản và quản trị kết quả tài chính. Các nội dung này được thực hiện trong chu trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá. Nghiên cứu tập trung vào quản trị tài chính ở góc độ vi mô của cơ sở GDĐH, với tư cách là đơn vị cung cấp dịch vụ trong điều kiện tự chủ. Tác giả đề xuất một khung đánh giá quản trị tài chính trường đại học, bao gồm: tiêu chí về quy trình hoạt động (tính đầy đủ, tính minh bạch, tính tuân thủ), tiêu chí về đầu ra (tổng số thu, tốc độ tăng thu, 15 cơ cấu thu, tổng chi, cơ cấu chi, chi phí bình quân, tỷ trọng vốn vay đầu tư xây dựng cơ bản) và tiêu chí về kết quả (số sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên có việc làm, chất lượng đào tạo, kết quả tài chính, thu nhập bình quân) [76].
Lê Thế Tuyên (2020) nghiên cứu về “QLTC các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính”. Nghiên cứu tập trung vào QLTC từ góc độ của Bộ Tài chính và các trường ĐHCL trực thuộc Bộ, bao gồm quản lý huy động nguồn lực tài chính, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính, kiểm soát tài chính, và tổ chức hoạt động của bộ máy QLTC. Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng QLTC dựa trên các văn bản pháp lý và quá trình thực hiện của Bộ Tài chính và các trường ĐHCL trực thuộc Bộ [50]. Bài báo “Những thách thức về QLTC của các tổ chức GDĐH ở Georgia”, Kasradze và cộng sự (2019) cho rằng: trình độ phát triển của một nền khoa học và giáo dục có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Mặc dù đã có những cải cách gần đây, hệ thống giáo dục ở Georgia vẫn đối mặt với bất cập và nhiều thách thức trong việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ học vấn cao và cạnh tranh. Điều này làm cho việc củng cố hệ thống giáo dục thì quốc gia trở thành yếu tố quan trọng để tham gia vào cuộc cạnh tranh toàn cầu. Mặt khác, nguồn vốn và sự quản lý hiệu quả của các cơ sở GDĐH ảnh hưởng đến hoạt động của toàn hệ thống. Do đó, áp lực nâng cao hiệu quả QLTC là cơ sở bảo đảm trình độ phát triển của khoa học và giáo dục - yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng gia tăng nguồn tài chính cho hệ thống giáo dục qua các năm không đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng giáo dục, mà quan trọng hơn là cần có chiến lược cải cách đúng đắn, đi đôi với phân bổ hợp lý nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực tài chính trong hệ thống giáo dục [44]. Trong bài báo “Nghiên cứu về đổi mới QLTC ở các trường cao đẳng và đại học trong tình hình mới” của Liang (2019), tác giả chỉ ra rằng công tác QLTC của các trường đại học đang đối diện với một số vấn đề nổi bật, bao gồm cấu trúc hệ thống QLTC không phù hợp, hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả, hệ thống thông tin chậm trễ và quan điểm quản lý lạc hậu. Vì vậy, tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực QLTC ở các trường cao đẳng và đại học, bao gồm: (1) Hoàn thiện hệ thống quản lý ngân sách tài chính trong việc lập kế hoạch, quản lý, thực hiện, giám sát và đánh giá; (2) Thiết lập một hệ thống kiểm soát tài chính nội bộ hiệu quả và minh bạch; (3) Thu hút và đào tạo nhân tài về QLTC; (4) Xây dựng một mô hình QLTC linh hoạt bằng cách phát triển hệ thống thông 16 tin tài chính; (5) Thay đổi tư duy và quan điểm quản lý để thực hiện quản lý tập trung kết hợp với phân cấp QLTC [56]. Lê Thị Minh Ngọc (2017) trong nghiên cứu “Đổi mới cơ chế tài chính đối với các trường ĐHCL ở Việt Nam” đã phân tích cơ chế tài chính áp dụng cho các trường ĐHCL gồm: (1) Huy động nguồn tài chính, (2) Phân bổ nguồn kinh phí từ NSNN, (3) Tự chủ tài chính, và (4) Kiểm soát tài chính.
Tác giả tập trung nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính, phân bổ nguồn kinh phí từ NSNN và chính sách học phí trong các trường ĐHCL. Trong đó, chính sách học phí được coi là một phần quan trọng trong việc huy động nguồn tài chính cho các trường. Tác giả đề cập đến bốn nội dung của tự chủ tài chính bao gồm: Tự chủ trong quản lý và khai thác nguồn thu, tự chủ trong quản lý chi tiêu, tự chủ trong phân phối kết quả tài chính trong năm và tự chủ trong quản lý và sử dụng tài sản của trường. Các nội dung này cũng là mục tiêu mà QLTC của trường đại học cần đạt được.
Nghiên cứu này cũng đề xuất một số thước đo để đánh giá mức độ tự chủ tài chính của trường ĐHCL, bao gồm mức độ tự chủ về nguồn thu, mức độ tự chủ về quản lý chi tiêu, hiệu quả sử dụng vốn NSNN, hiệu suất đầu tư trên mỗi sinh viên, và thu nhập tăng thêm của NLĐ. Đây là những chỉ số đề xuất để đánh giá mức độ đổi mới QLTC của các trường ĐHCL, vì mục tiêu chính của đổi mới QLTC là tăng cường tự chủ tài chính [51].