Luận án tiến sĩ đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích đổi mới quản lý tài chính tại các trường đại học công lập Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

234
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2. Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.3. Những vấn đề được lựa chọn nghiên cứu và khung phân tích

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

2.1. Khái quát về giáo dục đại học công lập và quản lý tài chính các trường đại học công lập

2.2. Đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học

2.3. Kinh nghiệm đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập trên thế giới

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

3.1. Khái quát về các trường đại học công lập ở Việt Nam và vấn đề đổi mới giáo dục đại học theo hướng tự chủ và nâng cao chất lượng các trường đại học công lập

3.2. Thực trạng đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam

3.3. Đánh giá chung về đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh mới đối với quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam

4.2. Quan điểm về đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam

4.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam trong điều kiện tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý tài chính đại học công lập tại Việt Nam

Quản lý tài chính trong các trường đại học công lập (ĐHCL) tại Việt Nam đang trải qua những thay đổi lớn trong bối cảnh tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục. Quản lý tài chính không chỉ là việc phân bổ ngân sách mà còn là một phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Các trường ĐHCL cần phải thích ứng với môi trường cạnh tranh ngày càng gia tăng, đặc biệt là từ các trường tư thục. Việc đổi mới quản lý tài chính nhằm tạo ra một cơ chế linh hoạt, giúp các trường có thể huy động và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, tự chủ đại học là một xu hướng tất yếu, trong đó tự chủ tài chính đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển bền vững của các trường.

1.1. Tình hình hiện tại của quản lý tài chính đại học

Hiện nay, các trường ĐHCL ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc huy động nguồn tài chính. Nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) ngày càng hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư cho đổi mới giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng cao. Các trường cần phải tìm kiếm các nguồn thu khác như học phí, tài trợ từ doanh nghiệp và các quỹ đầu tư. Việc quản lý ngân sách hiệu quả không chỉ giúp các trường duy trì hoạt động mà còn nâng cao uy tín và chất lượng đào tạo. Theo báo cáo, nhiều trường đã áp dụng các mô hình quản lý tài chính mới, giúp cải thiện tình hình tài chính và chất lượng đào tạo.

II. Đổi mới quản lý tài chính trong điều kiện tự chủ

Đổi mới quản lý tài chính trong các trường ĐHCL là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh tự chủ. Các trường cần phải xây dựng một cơ chế tài chính linh hoạt, giúp họ có thể tự chủ trong việc huy động và sử dụng nguồn lực. Việc tự chủ tài chính không chỉ giúp các trường có thêm nguồn lực mà còn tạo ra động lực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục. Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP, các trường được phép tự quyết định về tài chính, từ việc thu học phí đến việc sử dụng ngân sách. Điều này tạo ra một môi trường cạnh tranh, buộc các trường phải cải thiện chất lượng đào tạo để thu hút sinh viên.

2.1. Các giải pháp đổi mới quản lý tài chính

Để thực hiện đổi mới quản lý tài chính, các trường ĐHCL cần áp dụng các giải pháp như xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn, tăng cường minh bạch trong quản lý ngân sách và cải thiện quy trình phân bổ tài chính. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính cũng là một yếu tố quan trọng giúp các trường nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Các trường cũng cần phải tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để huy động thêm nguồn tài chính, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

III. Đánh giá thực trạng và thách thức

Thực trạng quản lý tài chính tại các trường ĐHCL hiện nay cho thấy nhiều điểm mạnh nhưng cũng không ít thách thức. Mặc dù đã có những cải cách trong quản lý giáo dục, nhưng việc thực hiện tự chủ tài chính vẫn gặp nhiều khó khăn. Nguồn tài chính từ NSNN không đủ đáp ứng nhu cầu, trong khi các trường vẫn phải duy trì chất lượng đào tạo. Việc phân bổ ngân sách giữa các trường cũng chưa công bằng, dẫn đến sự chênh lệch trong chất lượng giáo dục giữa các trường. Các trường cần phải tìm ra giải pháp để khắc phục những hạn chế này, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

3.1. Những thách thức trong quản lý tài chính

Một trong những thách thức lớn nhất trong quản lý tài chính là sự thiếu hụt nguồn lực. Các trường ĐHCL thường phải đối mặt với việc phân bổ ngân sách không đồng đều, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì và phát triển chương trình đào tạo. Bên cạnh đó, việc áp dụng các chính sách tài chính mới cũng gặp phải sự phản đối từ một số bộ phận trong trường. Để vượt qua những thách thức này, các trường cần phải có chiến lược rõ ràng và linh hoạt trong việc quản lý tài chính, đồng thời tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định.

IV. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thông qua quản lý tài chính

Để nâng cao chất lượng giáo dục, các trường ĐHCL cần phải cải thiện quản lý tài chính một cách đồng bộ. Việc xây dựng một hệ thống tài chính minh bạch và hiệu quả sẽ giúp các trường có thể sử dụng nguồn lực một cách tối ưu. Các trường cần phải đầu tư vào cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đồng thời, việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức xã hội cũng là một giải pháp quan trọng để huy động thêm nguồn lực cho giáo dục.

4.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Các trường ĐHCL nên xây dựng các chương trình hợp tác với doanh nghiệp để tạo ra nguồn thu từ các dự án nghiên cứu và phát triển. Việc áp dụng các công nghệ mới trong giảng dạy và quản lý cũng sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục. Ngoài ra, các trường cần phải thường xuyên đánh giá và điều chỉnh các chính sách tài chính để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong quản lý. Điều này không chỉ giúp các trường duy trì chất lượng mà còn tạo ra niềm tin từ phía sinh viên và xã hội.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về quản lý tài chính và đổi mới quản lý tài chính giáo dục đại học Vũ Thị Thanh Thủy (2012) trong nghiên cứu “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” đã đưa ra những quan điểm về QLTC các trường ĐHCL, đặc biệt là QLTC theo hướng tự chủ tài chính. Tác giả đã xây dựng được một số chỉ tiêu đánh giá QLTC các trường ĐHCL như: tỷ lệ tăng thu nhập cho cán bộ, giảng viên; tỷ trọng đầu tư trang thiết bị trong tổng chi; tỷ lệ tiết kiệm chi; tỷ trọng từng nguồn thu; tỷ lệ chênh lệch thu chi trong đào tạo; tỷ trọng chi cho NCKH, mức độ sai phạm trong QLTC, tỷ lệ thất thoát tài chính… Trong đó có một số chỉ tiêu gần với các tiêu chí phản ánh chất lượng cơ sở đào tạo, được tác giả sử dụng làm tiêu chí đánh giá QLTC các trường như: tỷ lệ công trình NCKH đăng tải trên tạp chí quốc tế/ giáo viên, tỷ lệ công trình NCKH sinh viên được giải, tỷ lệ chương trình đào tạo (CTĐT) liên kết nước ngoài hoặc công nhận quốc tế [113].

Trương Thị Hiền (2017) trong luận án tiến sĩ “QLTC tại các trường ĐHCL trực thuộc bộ GĐ&ĐT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện tự chủ”, đã nghiên cứu vấn đề lý luận về QLTC tại các trường ĐHCL và thực tiễn QLTC tại 4 trường ĐHCL trực thuộc Bộ GĐ&ĐT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả kết luận rằng QLTC trong các trường đại học phức tạp và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, việc đổi mới công tác QLTC chỉ có thể thực hiện khi công tác tổ chức nhân sự, công tác chuyên môn nghiệp vụ được đổi mới đồng thời, và những quyết định QLTC của các trường đại học cần được đưa ra trong bối cảnh quyền tự chủ ngày càng mở rộng của các trường. Luận án cũng chỉ ra một loạt các chỉ tiêu phản ánh mức độ tự chủ tài chính của trường như: mức tự chủ nguồn kinh phí chi thường xuyên, cơ cấu nguồn tài chính, cơ cấu các khoản chi, chỉ số về cơ sở vật chất (CSVC), thu nhập tăng thêm của người lao động (NLĐ), suất đầu tư trên một sinh viên, tỷ lệ giảng viên/ sinh viên, số lượng và chất lượng của bài báo khoa học. Các chỉ tiêu này có thể hỗ trợ đánh giá mức độ đổi mới QLTC các trường ĐHCL trong điều kiện tự chủ.

Tuy nhiên, trong số các chỉ tiêu này, cũng có một số chỉ tiêu không trực 14 tiếp đo lường mức độ tự chủ của trường đại học, mà thực chất là các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của trường, chẳng hạn như: tỷ lệ giảng viên/ sinh viên, số lượng và chất lượng của bài báo khoa học [109]. Lê Văn Dụng (2017) trong nghiên cứu “Quản trị tài chính tại các trường ĐHCL ngành y ở Việt Nam”, trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận về quản trị tài chính với chủ thể quản lý là bản thân các trường đại học, phân tích thực trạng quản trị tài chính của 5 trường ĐHCL ngành y tế, tác giả nhấn mạnh việc xác định chi phí đào tạo và quản trị chi phí để đảm bảo nguồn kinh phí và phát triển của trường đại học. Đồng thời, việc tăng cường huy động nguồn tài chính từ khu vực tư nhân vào phát triển dịch vụ khám chữa bệnh và đào tạo của trường và việc xây dựng cơ chế hợp tác kinh tế giữa trường đại học và bệnh viện cũng được tác giả đề xuất. Ngoài ra, việc nâng cao hiệu lực của quy chế chi tiêu nội bộ để đảm bảo chất lượng đào tạo, NCKH và thu nhập tăng thêm cho NLĐ [54].

Phạm Thị Thanh Vân (2017), “QLTC nội bộ các trường ĐHCL ở Việt Nam” nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLTC nội bộ trong các trường ĐHCL ở Việt Nam với nội dung QLTC ở góc độ vi mô của cơ sở GDĐH gồm: quản lý thu, quản lý chi và quản lý tài sản theo quy trình từ lập kế hoạch tài chính, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, kiểm soát. Tác giả cũng xem xét 3 công cụ chủ yếu trong QLTC nội bộ các trường đại học: hệ thống kiểm soát nội bộ, kế toán quản trị, kiểm toán nội bộ. Nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến QLTC nội bộ các trường ĐHCL gồm các nhân tố bên ngoài như cơ chế và chính sách của Nhà nước, hội nhập quốc tế, trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức thu nhập của người dân; và các nhân tố bên trong như chiến lược phát triển của trường, các công cụ QLTC nội bộ, tổ chức bộ máy quản trị, kỹ năng quản trị và lãnh đạo, và năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ QLTC nội bộ [84]. Nguyễn Thị Mai Lan (2019) nghiên cứu về “Quản trị tài chính tại các trường đại học trực thuộc Bộ Công thương trong điều kiện tự chủ.

Quản trị tài chính các trường ĐHCL trong điều kiện tự chủ bao gồm quản trị nguồn thu, quản trị chi phí, quản trị tài sản và quản trị kết quả tài chính. Các nội dung này được thực hiện trong chu trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá. Nghiên cứu tập trung vào quản trị tài chính ở góc độ vi mô của cơ sở GDĐH, với tư cách là đơn vị cung cấp dịch vụ trong điều kiện tự chủ. Tác giả đề xuất một khung đánh giá quản trị tài chính trường đại học, bao gồm: tiêu chí về quy trình hoạt động (tính đầy đủ, tính minh bạch, tính tuân thủ), tiêu chí về đầu ra (tổng số thu, tốc độ tăng thu, 15 cơ cấu thu, tổng chi, cơ cấu chi, chi phí bình quân, tỷ trọng vốn vay đầu tư xây dựng cơ bản) và tiêu chí về kết quả (số sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên có việc làm, chất lượng đào tạo, kết quả tài chính, thu nhập bình quân) [76].

Lê Thế Tuyên (2020) nghiên cứu về “QLTC các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính”. Nghiên cứu tập trung vào QLTC từ góc độ của Bộ Tài chính và các trường ĐHCL trực thuộc Bộ, bao gồm quản lý huy động nguồn lực tài chính, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính, kiểm soát tài chính, và tổ chức hoạt động của bộ máy QLTC. Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng QLTC dựa trên các văn bản pháp lý và quá trình thực hiện của Bộ Tài chính và các trường ĐHCL trực thuộc Bộ [50]. Bài báo “Những thách thức về QLTC của các tổ chức GDĐH ở Georgia”, Kasradze và cộng sự (2019) cho rằng: trình độ phát triển của một nền khoa học và giáo dục có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.

Mặc dù đã có những cải cách gần đây, hệ thống giáo dục ở Georgia vẫn đối mặt với bất cập và nhiều thách thức trong việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ học vấn cao và cạnh tranh. Điều này làm cho việc củng cố hệ thống giáo dục thì quốc gia trở thành yếu tố quan trọng để tham gia vào cuộc cạnh tranh toàn cầu. Mặt khác, nguồn vốn và sự quản lý hiệu quả của các cơ sở GDĐH ảnh hưởng đến hoạt động của toàn hệ thống. Do đó, áp lực nâng cao hiệu quả QLTC là cơ sở bảo đảm trình độ phát triển của khoa học và giáo dục - yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng gia tăng nguồn tài chính cho hệ thống giáo dục qua các năm không đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng giáo dục, mà quan trọng hơn là cần có chiến lược cải cách đúng đắn, đi đôi với phân bổ hợp lý nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực tài chính trong hệ thống giáo dục [44]. Trong bài báo “Nghiên cứu về đổi mới QLTC ở các trường cao đẳng và đại học trong tình hình mới” của Liang (2019), tác giả chỉ ra rằng công tác QLTC của các trường đại học đang đối diện với một số vấn đề nổi bật, bao gồm cấu trúc hệ thống QLTC không phù hợp, hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả, hệ thống thông tin chậm trễ và quan điểm quản lý lạc hậu. Vì vậy, tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực QLTC ở các trường cao đẳng và đại học, bao gồm: (1) Hoàn thiện hệ thống quản lý ngân sách tài chính trong việc lập kế hoạch, quản lý, thực hiện, giám sát và đánh giá; (2) Thiết lập một hệ thống kiểm soát tài chính nội bộ hiệu quả và minh bạch; (3) Thu hút và đào tạo nhân tài về QLTC; (4) Xây dựng một mô hình QLTC linh hoạt bằng cách phát triển hệ thống thông 16 tin tài chính; (5) Thay đổi tư duy và quan điểm quản lý để thực hiện quản lý tập trung kết hợp với phân cấp QLTC [56]. Lê Thị Minh Ngọc (2017) trong nghiên cứu “Đổi mới cơ chế tài chính đối với các trường ĐHCL ở Việt Nam” đã phân tích cơ chế tài chính áp dụng cho các trường ĐHCL gồm: (1) Huy động nguồn tài chính, (2) Phân bổ nguồn kinh phí từ NSNN, (3) Tự chủ tài chính, và (4) Kiểm soát tài chính.

Tác giả tập trung nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính, phân bổ nguồn kinh phí từ NSNN và chính sách học phí trong các trường ĐHCL. Trong đó, chính sách học phí được coi là một phần quan trọng trong việc huy động nguồn tài chính cho các trường. Tác giả đề cập đến bốn nội dung của tự chủ tài chính bao gồm: Tự chủ trong quản lý và khai thác nguồn thu, tự chủ trong quản lý chi tiêu, tự chủ trong phân phối kết quả tài chính trong năm và tự chủ trong quản lý và sử dụng tài sản của trường. Các nội dung này cũng là mục tiêu mà QLTC của trường đại học cần đạt được.

Nghiên cứu này cũng đề xuất một số thước đo để đánh giá mức độ tự chủ tài chính của trường ĐHCL, bao gồm mức độ tự chủ về nguồn thu, mức độ tự chủ về quản lý chi tiêu, hiệu quả sử dụng vốn NSNN, hiệu suất đầu tư trên mỗi sinh viên, và thu nhập tăng thêm của NLĐ. Đây là những chỉ số đề xuất để đánh giá mức độ đổi mới QLTC của các trường ĐHCL, vì mục tiêu chính của đổi mới QLTC là tăng cường tự chủ tài chính [51].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đổi mới quản lý tài chính đại học công lập tại Việt Nam: Tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục" đề cập đến những thay đổi cần thiết trong quản lý tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự chủ tài chính để nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời chỉ ra những thách thức và cơ hội mà các cơ sở giáo dục phải đối mặt trong quá trình này. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà tự chủ tài chính có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của các trường đại học, từ đó mang lại lợi ích cho sinh viên và xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học, nơi bàn luận về vai trò của quản lý nhà nước trong giáo dục đại học. Ngoài ra, bài viết Quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường tiểu học đoàn thị điểm hà nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý giáo dục trong bối cảnh hội nhập. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh theo định hướng phát triển năng lực sẽ cung cấp thêm thông tin về cách đánh giá hiệu quả học tập trong môi trường giáo dục hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề quản lý giáo dục tại Việt Nam.