Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập Tại khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức số 58/2010/QH12, định nghĩa về ĐVSNCL như sau: “là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” Theo khái niệm trên, ĐVSNCL được thành lập với vai trò: Thứ nhất, các ĐVSNCL cung cấp các dịch vụ công phục vụ nhân dân trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa,. với chất lượng ngày càng cao và đa dạng về loại hình dịch vụ, qua đó đáp ngày càng tốt hơn các nhu cầu của xã hội.
Thứ hai, các ĐVSNCL đảm bảo cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu đáp ứng nhu cầu của xã hội, như: về y tế, giáo dục tại miền núi, vùng dân tộc thiểu số, hải đảo, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Thứ ba, các ĐVSNCL thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước, như: thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, kiểm tra chất lượng SPHH; nghiên cứu, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật theo yêu cầu; quản lý thông tin, tư liệu, số liệu về lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công;. Thứ tư, các ĐVSNCL thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao, như: thực hiện khám chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân; thực hiện đào tạo, cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao; thực hiện nghiên cứu, ứng dụng các kết quả KHCN; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ 9 thuật. làm giàu đời sống tinh thần cho người dân Thứ năm, ở mỗi lĩnh vực hoạt động, các ĐVSNCL đều có vai trò chính trong việc đề xuất, tham gia thực hiện các đề tài, đề án, nhiệm vụ, thông qua đó góp phần vào việc hoạch định, thực thi các chính sách phát triển chung của đất nước.
Thứ sáu, việc không ngừng đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định của các ĐVSNCL đã khuyến khích và huy động các nguồn lực trong xã hội, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Mỗi tiêu chí có cách phân loại ĐVSNCL khác nhau. Nếu xét phân loại theo chức năng, nhiệm vụ của ĐVSNCL, gồm: ĐVSNCL phục vụ quản lý nhà nước; ĐVSNCL cung ứng DVSNC; ĐVSNCL đồng thời thực hiện phục vụ quản lý nhà nước và cung ứng DVSNC. Nếu phân loại theo ngành, lĩnh vực hoạt động, gồm: ĐVSNCL trong lĩnh vực y tế, gồm các cơ sở khám, chữa bệnh (bệnh viện thuộc sở y tế, trung tâm y tế huyện,.); ĐVSNCL trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, gồm các cơ sở giáo dục (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp,.); ĐVSNCL trong lĩnh vực KHCN, là các tổ chức KHCN công lập; ĐVSNCL trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch (các đơn vị nghệ thuật biểu diễn công lập; ĐVSNCL trong lĩnh vực thông tin và truyền thông;.
Phân loại theo mức độ tự chủ về tài chính, ĐVSNCL được chia thành 04 nhóm: ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư (hay còn gọi là đơn vị nhóm 1); ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên (đơn vị nhóm 2); ĐVSNCL tự đảm bảo một phần chi thường xuyên (đơn vị nhóm 3); ĐVSNCL do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên (đơn vị nhóm 4). Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập Từ “cơ chế”, theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000) được định nghĩa đó là “cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”. Cuối những năm 1970, khi quản lý và cải tiến kinh tế bắt đầu được chú trọng và nghiên cứu thì từ “cơ chế” được biết đến và sử dụng rộng rãi hơn trong lĩnh vực quản lý với nghĩa như là qui định về quản lý.
“Tài chính”, xét về bản chất, đó là các quan hệ kinh tế trong thực hiện phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, qua đó nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, với mục tiêu đáp ứng nhu cầu về tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Đó là việc thực hiện quản lý các hoạt động sử dụng tài sản, nguồn lực một cách hiệu quả nhất để đạt được các mục tiêu tài chính đã đặt ra. “Tự chủ” là việc chủ thể có quyền tự quyết định, hành động trong khuôn khổ pháp luật, chủ động trong việc điều hành các hoạt động của mình; tự chủ là quyền được sử dụng các nguồn lực về tài chính và phi tài chính để đạt được các mục tiêu khác nhau của tổ chức. Trong một tổ chức, khi xem xét trên khía cạnh quản lý thì tự chủ thể hiện sự liên hệ giữa quyền, nghĩa vụ giữa một bên là chủ thể quản lý và một bên là chủ thể bị quản lý.
Nội dung chính của tự chủ bao gồm: tự chủ về hoạt động quản lý chuyên môn; tự chủ về việc quản lý nhân sự, bộ máy; tự chủ về hoạt động quản lý, sử dụng tài chính. Như vây, có thể hiểu cơ chế tự chủ tài chính của các ĐVSNCL đó là cách thức các ĐVSNCL thực hiện quản lý tài chính trong nền kinh tế quốc dân trên nguyên tắc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng nguồn tài chính cho các ĐVSNCL. Theo đó, các ĐVSNCL thực hiện quyền quyết định hoạt động điều động, bố trí dùng các nguồn lực tài chính, bảo đảm 11 cân đối giữa thu và chi, nhờ đó chất lượng các dịch vụ công của đơn vị được nâng cao. Cơ chế tự chủ tài chính được coi là công cụ để các ĐVSNCL thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao nhằm hướng đến mục đích của tổ chức, của xã hội theo phương hướng Nhà nước đã xác định.
Sự cần thiết, mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Trước khi thực hiện cơ chế tự chủ, các ĐVSNCL hoạt động gần giống như các đơn vị hành chính, biểu hiện: Về tài chính, các ĐVSNCL là đơn vị dự toán giống với cơ quan hành chính, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn NSNN được nhà nước giao đúng với số dự toán được phê duyệt; việc chi cũng thực hiện theo các nội dung theo dự toán. Các kế hoạch, nội dung công việc, kinh phí hoạt động của đơn được định đoạt bởi cơ quan cấp trên; các nội dung không có trong kế hoạch của đơn vị thì không được bố trí NSNN để thực hiện. Do cách thức tổ chức và hoạt động như vậy, nên các ĐVSNCL gần như bị động trong việc quyết định các loại hoạt động chủ yếu của đơn vị. Trong khi các hoạt động của các ĐVSNCL có sự đặc thù theo lĩnh vực, hàm lượng kỹ thuật cao (các ĐVSNCL trong lĩnh vực KHCN, y tế),.
đơn vị quản lý cấp trên không thể nhanh chóng hiểu rõ được mà cần phải có thời gian để nắm bắt, phân tích, hiểu vấn đề; do vậy việc đưa ra quyết định quản lý đúng đắn kịp thời là rất khó. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các ĐVSNCL đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó cần phải giải quyết ngay đó là thách thức về số lượng, chất lượng dịch vụ cung ứng. Đặc biệt là đối với các ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực KHCN, do nhu cầu về các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, đo lường,ứng dụng thành tựu KHCN,. tăng nhanh; kéo theo đó là nhu cầu về đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tăng.
Trong khi nguồn lực NSNN không phải là vô hạn. Bên cạnh đó, những quy định cứng nhắc về cơ chế tài chính đã kìm hãm sự đột phá trong 12 quá trình quản lý tài chính tại các ĐVSNCL. Do được Nhà nước “bao bọc” quá lâu mà các ĐVSNCL trở nên không còn linh hoạt, thiếu nhạy bén, hoạt động kém hiệu quả. Chính vì vậy, điều cần làm ngay để làm tăng hiệu suất, phát triển hoạt động của các ĐVSNCL đó là phải đổi mới tư duy, điều chỉnh cách thức nhà nước đang thực hiện để quản lý, chuyển từ “bao cấp” sang giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các ĐVSNCL.
Đặc biệt coi trọng việc giao quyền tự chủ tài chính để bố trí, dùng nguồn lực tài chính sao cho mang lại hiệu suất, kết quả cao nhất cho xã hội; lôi kéo được những nguồn vốn quan trọng; bên cạnh đó còn khuyến khích, tạo động lực các ĐVSNCL tích cực, chủ động đẩy mạnh hoạt động của mình để phát triển hoạt động của đơn vị. Viêc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói chung, tự chủ về tài chính nói riêng tại các ĐVSNCL nhằm hướng tới các mục tiêu: Thứ nhất, nhằm tạo ra một khung pháp lý hoàn thiện để các ĐCSNCL có cơ sở thực hiện, nâng cao quyền tự chủ trong hoạt động của ĐVSNCL. Thứ hai, hướng đến việc tăng cường quyền tự chủ cho các ĐVSNCL trong việc quyết định các vấn đề về lựa chọn và sử dụng các yếu tố sản xuất như tài chính và nhân lực, tổ chức,. hướng tới giảm mức độ kiểm soát từ cơ quan quản lý Nhà nước; giúp đẩy mạnh việc phân cấp, đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo và giảm thiểu sự tiêu cực, tính bị động của các ĐVSNCL và người đứng đầu ĐVSNCL.
Tách biệt vai trò quản lý nhà nước với vai trò điều hành các hoạt động của ĐVSNCL nhằm hướng tới đích đến cao nhất là phát triển cung cấp dịch vụ công cả về số lượng và chất lượng. Thứ ba, nhằm nâng cao trách nhiệm của các tổ chức công. Thông qua cơ chế tự chủ, ĐVSNCL tự chủ động nguồn lực tài chính trong mối tương quan giữa tài chính và hiệu quả. Việc được tự chủ tài chính giúp các ĐVSNCL không bị động trong quyết định, bảo đảm cân bằng cho chi tiêu thực hiện vai trò, chức trách của đơn vị.
13 Thứ tư, tạo điều kiện để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các ĐVSNCL; thực hiện chủ trương xã hội hóa, kêu gọi, tập hợp sự đóng góp của của các nguồn lực trong xã hội, dần dần xóa bỏ sự bao cấp của Nhà nước, giảm áp lực cho NSNN.